Trẻ có tính cách hướng nội, cha mẹ thông minh dạy con thành tài ra sao?

Trong xã hội ngày nay, rất nhiều bậc phụ huynh cho rằng những trẻ em có tính cách hướng nội sẽ khó hoà nhập được với xã hội hơn những trẻ em hướng ngoại. Vì thế, những trẻ em ít giao tiếp với mọi người xung quanh hay yêu thích sự yên tĩnh quá mức luôn khiến họ phiền lòng.

Bạn có nghĩ quan điểm trên là đúng?

Bạn có cho rằng trẻ em hướng nội khó thành công hơn những trẻ em hướng ngoại?

Và bạn sẽ xử sự ra sao nếu như người thân hoặc con cái của mình thuộc tuýp người hướng nội? Liệu bạn có nghĩ biện pháp để thay đổi tính cách của họ hay không?

Trước tiên, chúng ta hãy cùng tìm hiểu thế nào là một người hướng nội và một người hướng ngoại.

Theo các nhà tâm lý học, khi miêu tả về một người nào đó, người ta thường hay dùng từ hướng nội hoặc hướng ngoại để định nghĩa. Hai tuýp người này có những đặc điểm tính cách gần như trái ngược nhau.

Chuyên gia tâm lý Carl Gustav Jung nhận định: Người hướng nội là người thường chỉ chú trọng tới trạng thái tâm lý bản thân, đôi khi tham gia vào các hoạt động khác cùng mọi người nhưng họ thường không có nhiều hứng thú. Trong khi đó, người hướng ngoại là những người thường dồn hết tâm lực và trí lực vào thế giới bên ngoài, họ rất ít khi để bản thân cô đơn, một mình.

Sau Carl Gustav Jung, nhà tâm lý học người Anh, Hans Eysenck tìm hiểu từ góc độ mang tính chất sinh vật học về sự khác biệt giữa người hướng nội và người hướng ngoại. Người hướng nội và người hướng ngoại khác nhau ở tốc độ phản ứng của cơ thể và đại não, và về giới hạn cảm xúc (khi chịu tác động từ bên ngoài).

Khi đối diện với những tình cảnh quá kích động, người có tính hướng nội, người quá đỗi mẫn cảm, họ đôi khi chọn trốn tránh khỏi hoàn cảnh đó. Nói cách khác, người hướng nội dễ bị mất năng lượng khi ở trong đám đông hay trong những hoạt động mang tính tập thể. Còn người có tính hướng ngoại thì cần sự tác động từ thế giới bên ngoài để khơi gợi sự mạnh mẽ bên trong mình, ví dụ như chơi các môn thể thao có cảm giác mạnh, hoặc thi đấu thể dục…

Tuy nhiên, dù một người được xem là hướng nội hay hướng ngoại như thế nào đi chăng nữa thì trên thực tế, không có ai chỉ hướng nội hay chỉ hướng ngoại. Ở những hoàn cảnh tương đối đặc định họ mới thể hiện rõ nét ra như vậy. Trong mỗi người luôn tồn tại cả hai loại tính cách, tuy nhiên nét tính cách nào điển hình và vượt trội hơn thì người đó sẽ được xếp vào nhóm tính cách đó.

Tại sao nói không có sự phân biệt tốt xấu giữa việc hướng nội và hướng ngoại?

Xã hội ngày nay đang khích lệ văn hóa sống hướng ngoại, những người năng động được ngợi khen, nhưng những người im lặng, ít giao tiếp thì thường trở thành mục tiêu của sự đàm luận. Ví dụ, tại trường học, thầy cô khuyến khích một nhóm nhỏ học sinh cùng hoàn thành nhiệm vụ. Một học sinh thích sự nghiên cứu độc lập được xem là học sinh cá biệt, dị thường; và những học sinh thảo luận sôi nổi thì được đánh giá là có khả năng, tố chất. Các bậc phụ huynh cũng luôn hài lòng khi con cháu thể hiện khả năng giao tiếp với trưởng bối trước mặt khách hay người lạ. Trong rất nhiều hoàn cảnh, tính cách hướng ngoại được xem là chiếm ưu thế. Vậy người hướng nội có thực sự “kém” hơn người hướng ngoại như mọi người vẫn nghĩ?

Tại Mỹ từng có một cuốn sách bán rất chạy ngay sau khi ra mắt của New York Times với tựa đề “Im lặng: Sức mạnh của người hướng nội trong thế giới không bao giờ ngừng nói” (Quiet: The Power of Introverts in the World that Never Stops Talking). Tác giả cuốn sách Susan Cain đã đưa ra rất nhiều những dẫn chứng về thành công của người hướng nội. Họ là những người thích yên tĩnh, ổn định, thận trọng, và suy nghĩ thấu đáo; họ cũng là những người có nhiều cống hiến âm thầm cho sự phát triển của thế giới ngày nay. Bà viết: “Có ít nhất một phần ba trong số người quen của chúng ta có tính hướng nội. Họ là những người thích lắng nghe nhiều hơn lên tiếng; họ đổi mới và sáng tạo nhưng không thích tự đề cao bản thân; họ thích làm việc độc lập hơn làm việc theo nhóm. Chính những người hướng nội như Rosa Parks, Chopin, Dr. Seuss, Steve Wozniak đã mang đến nhiều đóng góp lớn lao cho xã hội.”

Xã hội ngày nay đã đánh giá quá thấp những người hướng nội và sai lầm này đã khiến chúng ta thiệt thòi đến mức nào. Susan Cain giới thiệu cho chúng ta biết những người hướng nội thành đạt: Từ một diễn giả hóm hỉnh, năng động phải tìm không gian tĩnh lặng để phục hồi năng lượng sau mỗi lần diễn thuyết, cho đến một nhân viên phá kỷ lục bán hàng biết thầm lặng khai phá sức mạnh của những câu hỏi. Họ đều là những người hướng nội trong bản chất nhưng vẫn mang nhiều yếu tố thành công được cho là chỉ có ở những người hướng ngoại. Bằng những lập luận mạnh mẽ được nghiên cứu kỹ lưỡng cùng nhiều câu chuyện người thật việc thật sâu sắc, cuốn sách này có sức mạnh làm thay đổi vĩnh viễn cách xã hội nhìn nhận về những người hướng nội cũng như cách người hướng nội nhìn nhận bản thân mình.

Ví dụ, Steve Wozniak, người cùng với Steve Jobs tạo ra chiếc máy PC đầu tiên, cũng là một người hướng nội. Ông cần đặc biệt nhiều thời gian yên tĩnh và sự riêng tư để có thể làm việc một cách tốt nhất. Như ông đã từng chia sẻ: “Từ lớp Ba cho tới tận lớp Tám, tôi cứ học mọi cách thật từ từ, mày mò tìm hiểu xem làm thế nào lắp đặt các thiết bị điện tử lại với nhau mà không cần đến dù chỉ một cuốn sách hướng dẫn…”. Quá trình làm việc độc lập, một mình ấy dạy cho ông thế nào là sự kiên nhẫn – thứ đã giúp ông trong suốt sự nghiệp thành công của mình.

Thậm chí, quan niệm ‘chỉ làm việc nhóm hay tương tác mạnh mới đem lại kết quả tốt nhất’ cũng trở nên sai lầm. Trong cuốn sách của Susan Cain có đề cập tới một nghiên cứu về hiệu suất làm việc của các lập trình viên khi làm việc độc lập và làm việc nhóm. Kết quả chỉ ra: “Các lập trình viên đến từ cùng một công ty đều đạt được mức hiệu quả gần như tương tự nhau, kể cả khi họ không hề làm việc chung với nhau. Đó là vì các thí sinh có kết quả tốt nhất đều chủ yếu đến từ những công ty cho nhân viên của họ nhiều sự riêng tư, nhiều không gian cá nhân, nhiều quyền quyết định môi trường làm việc của họ, và nhiều sự tự do không bị làm gián đoạn khi đang làm việc nhất. 62% các thí sinh xuất sắc nhất nói rằng không gian làm việc của họ khá là riêng tư…”. Như vậy, nếu biết khai thác đúng ưu điểm và tạo môi trường phù hợp cho những người hướng nội, họ có thể phát huy sức mạnh tiềm ẩn của bản thân và trở nên “đáng kinh ngạc”.

Mỗi một loại tình cách đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, phù hợp với những môi trường sống, nghề nghiệp riêng; và hướng nội không đồng nghĩa với nhút nhát, rụt rè, không có khả năng giao tiếp. Họ chỉ là những con người phát huy được khả năng tối đa khi làm việc độc lập, trong môi trường có những khoảng “nghỉ”, và cần “nạp” lại năng lượng ở một nơi yên tĩnh sau một ngày làm việc. Họ có thể luyện tập để khiến bản thân mình năng động và giỏi giao tiếp hơn. Thế nhưng, nếu như họ không may bị cưỡng chế phải thay đổi bản thân, trở thành những người hướng ngoại, có lẽ thế giới đã phải mất đi biết bao nhiêu thiên tài và sản sinh ra biết bao nhiêu “bệnh nhân”.

Nếu như một đứa trẻ hướng nội, trong quá trình phát triển luôn bị gia đình cải chính tính cách, bị bạn bè chế giễu, bài xích. Vậy thì đứa trẻ đó không những không thể khai phá ra được ưu điểm của tính cách mình mà còn thấy oán hận bản thân. Tại sao lại có hiện tượng này? Người có tính cách hướng nội thường nhìn vào thế giới nội tâm mình mà không phải thế giới bên ngoài để suy xét, giải quyết vấn đề. Nhưng khi trong bản thân họ không có một lời giải hay điểm cân bằng cần thiết, thì nội tâm họ sẽ xảy ra xung đột. Những xung đột này sẽ dẫn tới chướng ngại tâm lý cho họ, ví dụ như tâm lý sợ giao tiếp với xã hội bên ngoài, nó cũng như một chứng bệnh, biến trẻ em trở nên nói lắp, cô đơn.

Cho nên, có những vấn đề trong tính cách không nhất thiết là do đặc điểm của người hướng nội, mà là do hậu quả trong cách nhìn lệch lạc của xã hội tạo thành.

Vậy nếu cha mẹ có con mang tính cách hướng nội thì phải bồi dưỡng như thế nào?

  1. Cha mẹ cần phải nhận thức được rằng, hướng nội không phải là một tính xấu, càng không phải là một chuyện đáng e ngại. Đồng thời, các bậc phụ huynh phải hiểu rõ, hướng nội là tính cách thiên bẩm, cũng giống như máu huyết trong người, cơ bản là không cần và không thể thay đổi nó.
  2. Cha mẹ không nên gắn cái mác “xấu hổ” cho con cái hướng nội. Danh từ xấu hổ mang một chút hàm nghĩa của sự coi thường, trẻ em nghe nhiều sẽ dần dần hình thành tích cách tự ti, cho rằng bản thân mình kém cỏi, từ đó khó có khả năng phát huy được ưu điểm của loại tính cách này.
  3. Nếu như cha mẹ muốn giới thiệu con cái với một ai đó, hoặc giả để chúng thích nghi với một hoàn cảnh mới, tuyệt đối không được vội vàng, cần từ từ mà tiến hành. Bởi những đứa trẻ hướng nội cần thời gian để hoà nhập với một môi trường mới.
  4. Nếu như con cái đưa ra ý kiến thích tham gia một hoạt động nào đó mà bản thân trước đây vốn rất sợ hãi, hãy tích cực động viên con cái. Hãy cho chúng biết rằng chúng có đầy đủ khả năng để vượt lên chính mình, vượt khỏi cái vòng an toàn, phạm vi ước chế bản thân do chúng tự đặt ra.
  5. Giúp con cái bồi dưỡng sở thích của mình, có như vậy, chúng mới có cơ hội tiếp xúc với những người bạn cùng chung chí hướng, tham gia vào nhiều hoạt động thú vị và trở nên hạnh phúc hơn.
  6. Nói rõ cho thầy cô hiểu rằng con cái bạn là một người có tính cách hướng nội.
  7. Một đứa trẻ hướng nội sẽ dễ dàng sống trong thế giới của mình, không thích giao tiếp với quá nhiều người bên ngoài khi không cảm thấy an toàn, tự nhiên hay cần thiết. Chính vì vậy, cha mẹ cần phải chú ý lắng nghe con cái nói chuyện, thấu hiểu chúng, cố gắng tương tác tối đa với chúng. Khi con cái mất phương hướng trong thế giới của chính mình, đắm chìm trong những cảm xúc tiêu cực, hãy tìm cách kéo chúng ra khỏi những mâu thuẫn đó. Bạn hãy nhớ, con cái bạn là người dù có gặp khó khăn gì, chúng cũng không tìm sự giúp đỡ từ người khác; vậy nên, hãy là người chủ động.
  8. Nếu như con cái bạn có ít bạn bè, cũng đừng quá lo lắng; bởi chúng cần những mối quan hệ ổn định, tình cảm, không phải sự giao tiếp hời hợt bên ngoài. Chúng rất cần một người bạn đồng cảm để sẻ chia.

Tính cách hướng nội hay hướng ngoại cũng chỉ là một loại đặc điểm, nhân tố của con người. Nếu như có thể phát triển bản thân thuận theo những tính chất đó, vậy thì kiểu người nào cũng có thể thành công, bộc lộ được khả năng tiềm ẩn bên trong. Vậy nên đừng để quan niệm lệch lạc của mình đánh mất tương lai của con cái. Đứa trẻ nào cũng mang trong mình tố chất và tiềm năng riêng biệt, mà nếu chỉ nhìn bên ngoài thì không thể đánh giá chính xác. Cuộc sống muôn hình vạn trạng, con người mỗi người mỗi tính, chỉ cần hiểu bản thân mình và vun đắp những nét đẹp trong tâm hồn, thì ai cũng có thể tìm ra được chân lý của đời mình, tìm được chỗ đứng trong trời đất.

Trong hôn nhân không phân sai hay đúng, chỉ là có giữ lấy nhau hay không mà thôi

Không ít cô dâu, chú rể nét mặt ngời ngời hạnh phúc dắt nhau lên xe hoa với bao ước vọng tốt đẹp, để rồi sau một thời gian ngắn, họ lại chia tay với lý do rất đơn giản: “Không hợp nhau”. Vì sao lại như vậy?

Nhà tâm lý học người Mỹ John Gray, tác giả của cuốn sách “Đàn ông sao Hỏa, đàn bà sao Kim” cũng cho rằng: Sai lầm lớn nhất của nhiều người là chúng ta tưởng rằng để có sự hòa hợp, hai vợ chồng phải giống nhau. Chúng ta quên mất một điều cơ bản là, vợ chồng không phải hai người bạn cùng giới mà là hai người khác giới – người đàn ông và người đàn bà. Hai người đó không bao giờ giống nhau cả.

Chừng nào chúng ta nắm được đặc điểm tâm lý khác nhau của mỗi giới mới có thể hy vọng tìm thấy sự hòa hợp lứa đôi. Bởi vì hai người luôn suy nghĩ và hành động khác nhau, họ có những thói quen và sở thích khác nhau. Mong muốn người này giống người kia để hòa hợp nhau là ảo tưởng. Tốt hơn hết hãy xem họ khác nhau như thế nào để sống chung với sự khác nhau đó. Nghĩa là biết chấp nhận để hòa hợp với nhau.

Hôn nhân vốn là chuyện hệ trọng không dễ dàng của cả đời mỗi người. Yêu nhau đã khó, lấy được nhau cũng không dễ, sống được với nhau cả đời lại càng là một chặng đường gian nan. Yêu thì dễ, lấy nhau rồi như hai mảnh ghép phải thật khít với nhau. Rồi sẽ có cãi vã, có mâu thuẫn, điều chẳng thể tránh nổi. Những cuộc cãi vã luôn có thể khiến những cặp đôi buông tay nhau bất cứ lúc nào. Dù vậy hãy nên nhớ rằng, đã là vợ chồng thì phải nằm lòng những điều sau đây, để dẫu cãi nhau cũng chỉ để thấu hiểu và giữ nhau chặt hơn mà thôi.

Thứ nhất, hiểu được  mong muốn chủ yếu của chồng. Đó là: Được tôn trọng; Nhẹ nhàng, ôn hòa; Được ủng hộ, công nhận và thấu hiểu.

Thứ hai, hiểu được 3 nhu cầu thiết yếu của vợ. Đó là: Cảm giác an toàn; Lãng mạn; Được cưng chiều và dỗ dành.

Thứ ba, hiểu được 3 vấn đề lớn không thể tách rời giữa vợ và chồng: Vấn đề kinh tế; Tình cảm; Giao tiếp.

Thứ tư, làm được 3 nhiều 3 ít giữa vợ chồng: Quan tâm nhiều hơn về những thay đổi của đối phương; Khám phá nhiều hơn những ưu điểm của nhau; Nói nhiều hơn những lời tích cực; Ít than phiền; Ít đổ lỗi; Ít hiểu lầm.

Thứ năm, 4 điều cần hòa hợp khi chung sống giữa vợ chồng: Nhìn nhiều hơn về những ưu điểm của nhau; Đánh giá cao thế mạnh của nhau; Tha thứ nhiều hơn về những khuyết điểm của nhau; Bao dung tất cả những điểm yếu của nhau.

Thứ sáu, sau hôn nhân vẫn thường nói những lời âu yếm dịu dàng này với nhau: “Anh xin lỗi, anh sai rồi!”; “Em tin anh!”; “Anh tự hào vì niềm kiêu hãnh của em!”; Và một lời không thể nào thiếu, đó chính là “Anh yêu em!”.

Thứ bảy, 4 điểm tương đồng vợ chồng cần cố gắng hòa hợp khi chung sống: Mục tiêu chung trong cuộc sống; Môi trường sinh hoạt chung trong cuộc sống; Chủ đề chung trong cuộc sống; Bạn bè chung trong cuộc sống.

Muốn gia đình được hạnh phúc, các cặp vợ chồng hãy luôn ghi nhớ rằng mọi chuyện trong gia đình không phân sai hay đúng, chỉ có hòa hợp và không hòa hợp với nhau.

Nhà là nơi mang lại tình yêu thương và ấm áp, không phải là nơi giảng đạo lý.

Nhà là nơi tổ ấm và có linh hồn, hơi ấm và linh hồn của một căn nhà là do người phụ nữ nắm giữ.

Sức mạnh vĩ đại nhất trên thế giới này là tình yêu thương,

Đôi khi, trong hôn nhân, không phải là ai đúng ai sai, mà chỉ là có giữ lấy nhau hay không mà thôi.

Thật ra, có khi những cuộc cãi vã sẽ chẳng rõ ràng rằng ai đúng ai sai, nhưng mong bạn có thể hiểu rằng, đúng sai đến một lúc sẽ không có ý nghĩa gì nếu bạn còn muốn giữ lấy bạn đời của mình. Hôm nay em nhận sai, ngày mai anh xin lỗi thì cũng đã là huề. Quan trọng vẫn là làm thế nào để ta có thể bao dung và giữ lấy nhau một đời.

Trong hôn nhân, không nhất thiết phải có người đúng kẻ sai, chỉ có người nắm, kẻ buông mà thôi. Vì vậy, đừng đặt quá nặng kết quả của những cuộc cãi vã. Hơn hết, hãy yêu thương, thấu hiểu và bao dung nhau nhiều hơn để giữ gìn hạnh phúc của cả hai vợ chồng, bạn nhé!

“Tư duy giàu” và “tư duy nghèo” chọn loại nào sẽ phần nào quyết định con đường nhân sinh của bạn

Bạn có tự hỏi vì sao trên đời này lại luôn có những người rất giàu và rất nghèo? Điều gì quyết định sự khác biệt đó?

Người có “tư duy nghèo” thực sự đang nghĩ gì? Trong lòng họ quả thực chất đầy suy nghĩ tiêu cực. Ví dụ, họ luôn cảm thấy mình bị những người giàu có bóc lột, luôn muốn đối đầu với người giàu.

Họ cũng nghĩ là người giàu nên nộp càng nhiều thuế càng tốt để sau này mình được hưởng thêm nhiều phúc lợi. Đây chính là lối tư duy rất cực đoan. Người ta nói: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” (tự trách mình trước khi trách người). Nếu thực sự nghĩ rằng bản thân mình nghèo khó, tốt nhất nên nghĩ cách để làm giàu hơn thay vì hằn học những người kiếm được nhiều tiền.

Kỳ thực, những điều mà người giàu và người nghèo yêu thích đại khái cũng gần giống nhau, đều là tiền tài, người đẹp, biệt thự, sống được thoải mái, vui vẻ… Nhưng sự khác biệt chính ở những gì họ ghét.

Ví dụ, khi bị mất điện thoại, người có “tư duy nghèo” sẽ có tâm oán giận, giận lũ trộm cướp, giận chính phủ hay oán trách kiểu như: “Cảnh sát các ông đúng là chẳng làm được trò trống gì. Nếu các ông quản tốt thì điện thoại của tôi đã không bị mất“.

Nhưng người có “tư duy giàu” thì nghĩ khác, cũng là oán trách, cũng là giận nhưng là tự giận bản thân: “Thế là mất tiêu chiếc điện thoại mới mua rồi. Sao mình lại không có bản lĩnh như vậy nhỉ! Mình nên cố gắng kiếm nhiều tiền hơn để mua một chiếc khác“.

Người tư duy nghèo vấp ngã và cứ mãi nằm vạ ở đó than thở, tiếc nuối. Còn người tư duy giàu thì cố gắng đứng dậy ngay, và nỗ lực gấp đôi để kiếm được nhiều tiền hơn nữa. Đó chính là sự khác biệt lớn nhất giữa hai kiểu người.

Câu chuyện cổ sau đây có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn sự khác biệt trong suy nghĩ, tư duy của người giàu và người nghèo.

Có một người nghèo vì ăn không no, mặc không ấm nên thường hay kể khổ, than thân trách phận. Mặc dù, hàng ngày anh ta đều phải làm việc vất vả nhưng số tiền kiếm được lại chẳng đáng là bao.

Sau những tháng ngày sống trong khổ sở như vậy, một hôm anh ta thỉnh cầu Phật giải đáp cho những nỗi oan khuất trong lòng mình. Trước mặt vị Phật, anh ta vừa khóc vừa kể lể về những nỗi vất vả mà mình phải chịu đựng trong cuộc sống.

Cuối cùng, anh nói trong oán hận: “Con thấy cuộc đời này thật quá bất công! Tại sao những người giàu có đều nhàn nhã tự tại, còn người nghèo như con thì suốt ngày phải làm việc vất vả mà vẫn không đủ ăn?”

Vị Phật mỉm cười và hỏi lại anh ta: “Vậy phải như thế nào thì con mới cảm thấy công bằng?”

Anh người nghèo nhanh nhảu nói: “Dạ! Con xin Ngài hãy để cho một người giàu có cũng nghèo như con. Nếu như sau một thời gian mà người giàu đó vẫn giàu có thì con sẽ không còn oán trách gì nữa ạ!”

Vị Phật gật đầu nói: “Được!”

Nói xong, Vị Phật biến một người giàu có trở thành nghèo khó giống như anh ta. Đồng thời, vị Phật cũng biến ra hai ngọn núi có nhiều than đá để cho hai người họ cùng tới đó đào than kiếm sống. Thời gian quy định cho việc này là một tháng.

Thế là, họ bắt đầu lên núi đào than. Người nghèo hàng ngày làm việc nặng đã quen nên chẳng mấy chốc đã đào được một xe than đá và đem ra chợ bán lấy tiền. Sau khi bán được tiền, anh ta dùng hết số tiền đó mua đồ ăn ngon và mang về nhà cho vợ con cùng ăn.

Còn anh nhà giàu, vốn không quen làm việc nặng nhọc nên cứ đào được một lúc anh ta lại nghỉ một lúc, trên người mồ hôi túa ra như tắm. Đến tận chiều muộn, anh ta mới đào được gần đầy một xe than và đem ra chợ bán lấy tiền.

Nhưng sau khi bán được tiền rồi, anh ta chỉ mua mấy cái bánh bao mang về, số tiền còn lại cất đi để dành.

Ngày hôm sau, người nghèo dậy thật sớm để đi đào than với hy vọng đào được nhiều hơn hôm trước. Còn anh nhà giàu lại cầm số tiền còn lại đi dạo quanh chợ. Chỉ một lát sau, anh ta đã thuê được hai người nông dân nghèo vạm vỡ, khỏe mạnh.

Anh nhà giàu đưa hai người thợ đến núi đá để đào than, còn bản thân lại khoanh tay đứng nhìn và chỉ đạo họ làm việc. Chỉ trong một buổi sáng, anh người giàu đã có hai xe than đầy. Anh tiếp tục đem ra chợ bán lấy tiền, số tiền thu được lại thuê thêm mấy nhân công nữa tới đào than.

Đến hết ngày hôm đó, sau khi trả hết tiền thuê nhân công, số tiền mà anh nhà giàu thu được vẫn còn nhiều gấp mấy lần anh nhà nghèo.

Một tháng trôi qua nhanh chóng, anh nhà nghèo vẫn chỉ đào than ở một góc của ngọn núi. Đồng thời, số tiền mà anh ta thu được mỗi ngày đều dành để mua đồ ăn ngon nên cơ bản cũng không dành dụm được gì.

Còn anh nhà giàu thì sớm đã trở thành một ông chủ quản lý số nhân công đào hết số than đá trong ngọn núi ấy, bán đi kiếm được không ít tiền. Số tiền thu được từ bán than, anh ta lại chuyển sang buôn bán bất động sản nên chẳng mấy chốc lại đã trở thành một người giàu có.

Anh nhà nghèo lúc này đã không còn biết nói năng, oán trách gì nữa.

***

Giàu có hay nghèo khó thực sự chỉ sai khác nhau trong một ý nghĩ. Người mang tư tưởng làm giàu hoàn toàn khác với người chỉ mang mơ ước làm giàu. Bởi người giàu vốn dĩ là những người quyết tâm làm giàu, còn người nghèo thì lại chỉ mơ mộng giàu sang, thực tế không khác nào ôm cây đợi thỏ, há miệng chờ sung.

Người giàu coi thách thức là cơ hội, còn người nghèo thì coi thách thức là đe doạ sinh mạng mình.

Người giàu nắm bắt, theo đuổi mọi cơ hội, còn người nghèo thì chỉ muốn người khác cho mình một cơ hội.

Người giàu dám đánh cuộc liều lĩnh, còn người nghèo lại muốn được an toàn.

Người giàu biết cách làm chủ tiền bạc, còn người nghèo bị tiền bạc làm chủ.

Người giàu thích hành động, còn người nghèo thích mơ mộng. Ngoài ra còn phúc đức tích được của mỗi một người nữa.

Đó thực sự là “bí quyết” làm giàu mà những người giàu có, thành công không bao giờ tiết lộ cho người nghèo. Giờ thì bạn đã hiểu vì sao có những người rất giàu và cũng lại có người cả đời lao tâm khổ tứ mà nghèo vẫn hoàn nghèo rồi chứ?

Dạy con cách thích nghi với khó khăn, gian khổ để con thành đạt

Chúng ta, ai cũng luôn mong muốn con mình lớn lên khỏe mạnh, mọi sự luôn được ‘thuận buồm xuôi gió’ nhưng đôi khi rèn luyện con trong gian khó lại là cách để lại tài sản quý giá giúp con trưởng thành lành mạnh với tâm thái lạc quan. Bởi vì, chỉ có những đứa trẻ không ngừng được tôi luyện trong khó khăn, gian khổ, mới có ý chí kiên cường và khả năng sống mãnh liệt.

Có một câu chuyện như sau:

Từ nhỏ, tổng thống Mỹ – John F. Kennerdy đã được cha chú ý bồi dưỡng tính cách và phẩm chất tinh thần tự lập cho con trai.

Có lần, ông đánh xe ngựa chở con trai đi chơi. Đi ngang qua một khúc cua, vì xe ngựa chạy rất nhanh nên chiếc xe hất Kennerdy ra ngoài. Khi chiếc xe dừng lại, Kennerdy cho rằng, cha sẽ đỡ mình đứng dậy, nhưng cha vẫn ngồi yên trên xe hút thuốc.

Kennerdy gọi to: ‘Ba ơi, đỡ con dậy với’.

‘Con ngã có đau không?’.

‘Có ạ, con nghĩ mình không đứng dậy nổi’. Kennerdy khóc thút thít.

‘Thế thì phải kiên trì đứng dậy và bò lên xe thôi con’.

Kennerdy cố gắng đứng dậy và chầm chậm đi về phía chiếc xe, khó khăn lắm mới trèo lên được xe.

Người cha vung chiếc dây thừng điều khiển xe ngựa và hỏi: ‘Con có biết tại sao cha làm vậy không?’

Cậu con trai lắc đầu.

Người cha nói tiếp: ‘Cuộc đời con người cũng giống như vậy, ngã xuống, bò dậy, chạy đi, lại ngã, lại bò dậy, lại chạy đi. Bất cứ lúc nào cũng cần dựa vào bản thân, chẳng ai có thể đỡ con cả’.

Kennerdy nghe xong, mơ hồ gật đầu.

Có điều, từ đó về sau, cậu không còn dựa dẫm, ỷ lại vào người lớn nữa. Khi gặp chuyện gì, cũng không khóc lóc, kêu la nữa. Bởi vì, cậu biết không ai có thể giúp đỡ mình, ngoài bản thân mình, cậu cần nghĩ ra cách giải quyết vấn đề của bản thân.

Phẩm chất và tinh thần tự lập của tổng thống Mỹ – John F. Kennerdy đã được cha ông bồi dưỡng từ nhỏ. (Ảnh: https://vi.wikipedia.org)

Qua câu chuyện trên, các bậc cha mẹ đều hiểu ý nghĩa thực sự của khó khăn, gian khổ đối với con mình phải không? Chúng ta, ai cũng luôn mong muốn con mình lớn lên khỏe mạnh, mọi sự luôn được ‘thuận buồm xuôi gió’ nhưng đôi khi rèn luyện con trong gian khó lại là cách để lại tài sản quý giá giúp con trưởng thành lành mạnh với tâm thái lạc quan. Bởi vì, chỉ có những đứa trẻ không ngừng được tôi luyện trong khó khăn, gian khổ, mới có ý chí kiên cường và khả năng sống mãnh liệt. Trẻ có thể chịu khó khăn, gian khổ mới sống tốt hơn.

Đối với trẻ, khó khăn, gian khổ cũng có giá trị nhất định:

Khó khăn giúp bồi dưỡng niềm tin cho trẻ

Một người tự tin thường sẽ dũng cảm, lạc quan và kiên cường, đó là một trong những tố chất cần thiết giúp con người bước đến thành công. Khi trẻ gặp khó khăn, sẽ có cảm giác không vui. Chỉ cần cha mẹ khích lệ con vượt qua, giúp con phân tích nguyên nhân, để con tự tin đối mặt với khó khăn và chiến thắng nó.

Khó khăn giúp bồi dưỡng ý chí kiên cường cho trẻ

Muốn bồi dưỡng ý chí kiên cường cho con, cha mẹ cần dựa vào những khó khăn khách quan và chủ quan để rèn luyện, bồi dưỡng tính cách ngoan cường, dũng cảm đối diện và vượt qua khó khăn.

Khó khăn có lợi cho việc tăng khả năng chịu đựng của trẻ

Gặp khó khăn, một số người sẽ tỏ ra chán nản, buồn bã, trốn tránh, cũng có người lại tích cực, dũng cảm đối mặt. Đối với những khó khăn đôi khi không dễ mà khắc phục nhanh chóng theo ý mình nên cha mẹ hãy động viên con có thái độ lạc quan, học cách tự an ủi bản thân để giải tỏa áp lực trong lòng, giải tỏa áp lực tâm lý, đó là cách bồi dưỡng phẩm chất lạc quan và tự tin cho trẻ.

Chỉ khi gặp phải khó khăn, trẻ mới tỏ ra kiên cường, dũng cảm, tự tin, dùng sức mạnh và trí tuệ của mình khắc phục khó khăn, gian khổ, từng bước trở nên chín chắn và bước đến thành công.

Khi trẻ đối mặt với khó khăn, cách làm đúng của cha mẹ là:

Không nên quá lo lắng cho con

Không cần lo rằng con vì thất bại lần này mà mãi mãi không thể đứng lên được. Vì tự thân mỗi đứa trẻ đã có một sức sống tiềm tàng, chỉ cần cha mẹ hướng dẫn con bình tĩnh đối diện và ứng phó với thất bại thì con sẽ nhanh chóng vượt qua. Chỉ cần con hiểu rằng ngã ở đâu thì đứng lên ở đó, ngã rồi thì bò dậy mà đứng lên không được nằm mãi ở đó, thì đó cũng là một thành công lớn rồi.

Nói với con rằng ‘khó khăn’ không đáng sợ

Khó khăn luôn cản trở chúng ta dù ít dù nhiều, là điều không ai muốn có nhưng quan trọng là thái độ của chúng ta đối diện với khó khăn thế nào. Cha mẹ hãy nói với con rằng ‘khó khăn không đáng sợ’, ‘Con cần dũng cảm lên’. Cha mẹ hãy nhìn nhận rằng thất bại của con là cơ hội giáo dục, dẫn dắt con lấy lại dũng khí, mạnh dạn, tự tin thử lại lần nữa.

Giúp trẻ phân tích khó khăn và thất bại một cách khách quan

Đây chính là cách tìm ra phương pháp hiệu quả, hình thành lòng dũng cảm khắc phục khó khăn và tích cực tiến lên. Điều này giúp con nhận thức khó khăn và môi trường sống, nâng cao khả năng chịu đựng, luôn giữ tinh thần thái độ tích cực.

Đôi khi có những khó khăn sẽ làm trẻ bế tắc, đây chính là lúc cần thiết để các bậc cha mẹ phân tích, giúp con có thêm động lực vượt qua.

Đặt ra một số khó khăn nhất định để con trải nghiệm

Trẻ sống trong điều kiện gia đình khó khăn, môi trường sống khắc nghiệt đương nhiên sẽ có khả năng chịu đựng và ứng phó với mọi gian khổ. Mức sống hiện nay không ngừng nâng cao, cha mẹ nên đặt ra một số khó khăn nhất định để con tự giải quyết, từ đó bồi dưỡng ý chí và khả năng đối phó với khó khăn trong tương lai.

Chú ý dùng tấm gương tốt dạy con biết chịu đựng khó khăn, gian khổ

Học tập ngoài môi trường xã hội rất quan trọng đối với sự trưởng thành của trẻ, đối với những trẻ giỏi bắt chước, tấm gương của những người ưu tú có tác dụng lớn trong việc giáo dục trẻ.

Đương nhiên, cha mẹ cũng nên hiểu rằng, mục đích của việc này là giúp con học cách đối diện với khó khăn và chiến thắng khó khăn, bồi dưỡng khả năng chịu đựng thất bại của con. Đây không chỉ là giáo dục lối sống, giáo dục tâm lý… mà còn bao gồm bồi dưỡng khả năng tự lập, lòng dũng cảm, ý chí và khả năng chịu đựng của con. Chỉ có những đứa trẻ trưởng thành trong khó khăn, gian khổ mới có khả năng sinh tồn và đứng vững trong xã hội.

10 việc cần phải kiên trì để bản thân trở nên mạnh mẽ

Bạn muốn mình trở nên mạnh mẽ, có một sức khỏe tốt hơn và một tinh thần “thép” để vượt qua những khó khăn và cám dỗ? Sau đây là 10 việc để sống mạnh mẽ hơn mà bạn nên tham khảo và thử áp dụng.

Khi có người bình phẩm con người bạn từ đầu đến chân, tâm tình của bạn lúc này sẽ ra sao?

Nói thật là, không ai có quyền bình phẩm bạn thế này thế kia. Có thể có người đã từng nghe qua câu chuyện của bạn, nhưng bản thân họ vốn không đích thân trải qua, cũng chưa từng sống qua cuộc sống của bạn. Bởi vậy không nên quan tâm đến những lời thị phi của người khác, mà hãy chuyên tâm với cảm thụ của mình, đồng thời đi làm những việc mà trong tâm cho là đúng đắn.

Và cho dù người khác bình phẩm thế nào, bạn cũng nhất định phải làm được mười việc dưới đây:

1. Chăm lo tốt chính mình

Trong tất cả các mối quan hệ, thì mối quan hệ của mỗi người với chính bản thân chúng ta là chặt chẽ nhất, cũng là trọng yếu nhất. Nếu như bạn không thể chăm lo tốt chính mình, như vậy cũng không cách nào chăm lo tốt người khác.

Đôi khi trong cuộc sống bạn thường chỉ nghĩ đến việc làm thế nào để khiến cho những người xung quanh vui vẻ và hạnh phúc nhưng lại quên mất một điều rằng hơn ai hết bản thân bạn cũng nên và cần được yêu thương. Hãy luôn nhớ rằng: “Nếu không ai nói yêu bạn mỗi ngày, thì hãy tự làm điều đó cho chính mình. Bởi nếu không biết tự yêu thương bản thân, không ai có thể biết cách yêu thương bạn”.

2. Vì bản thân, hãy làm những việc mà bạn cho là đúng đắn

Trở ngại khiến mọi người chưa thành công, phổ biến nhất là những nhược điểm trong chính bản thân chúng ta. Đừng băn khoăn và lo sợ, hãy cứ làm những gì bạn cho là đúng vì “thất bại là mẹ thành công”. Nếu bạn muốn thành công từ chính những thất bại đã gặp thì hãy vượt qua những nguyên nhân ngăn cản bạn đến với thành công.

Đừng sợ phải đi đường một mình, hơn nữa nếu bạn thích đi lại một mình, hãy cứ tự tin tiến bước, không có gì để phải đắn đo lo sợ cả. Đừng để sự tác động tiêu cực từ những người thiếu hiểu biết quanh bạn làm bạn chùng chân dừng bước, khiến bạn không thể là chính mình. Những việc mà trong tâm bạn cho là chính xác, thì hãy kiên trì thực hiện, đó là vì chính bạn. Bởi vì, khi bạn ở vào trạng thái hoàn toàn hài hòa với chính mình, sẽ không ai có thể dao động bạn được.

3. Bước đi trên con đường riêng biệt của mình

Mỗi ngày đều là cơ hội để thay đổi cuộc sống, tiến bước về phía cuộc sống mà bạn mong muốn. Cố gắng phấn đấu vì những điều mình tin tưởng; lòng ôm rộng lớn, coi nhẹ sầu lo. Lượng sức mà làm, chớ nên hà khắc bản thân; chỉ cần mỗi ngày đều có tiến bước.

Còn nữa, trước khi bắt tay vào làm bất cứ việc gì, bạn hãy quyết định xem rằng có nên làm hay không, chứ không phải tìm lý do, đồng thời cần phải học tập kiến thức mới, ngày càng tiếp cận mục tiêu của bản thân. Hơn nữa, bạn sẽ biết còn có những người bên cạnh, cảm phục sự nỗ lực của bạn, họ là những người bạn đồng hành hướng đến những điều tốt đẹp.

4. Rời xa ồn ào, cố gắng vươn đến mục tiêu

Ước mơ cần rộng lớn, nhưng phải biết thời gian có hạn, thực hiện những mục tiêu thực tế mới là then chốt của sự thành công. Thành công có quan hệ trực tiếp với hành vi thường ngày. Nắm bắt thời gian thế nào quyết định chúng ta là người ra sao. Mỗi một chút sự tình của ngày thường, tích lũy qua năm tháng, dần dần kề sát ước mơ, những ai thành công thông qua làm như vậy, sẽ mãi luôn bảo trì sự tiến bước. Trên đường đi, họ cũng sẽ phạm phải sai lầm, nhưng họ không từ bỏ, họ tạm lui cuộc sống xô bồ tìm một nơi yên tĩnh suy nghĩ lại tất cả, tiếp thu bài học và tiếp tục kiên trì tiến bước.

5. Khi cuộc sống thay đổi, hãy điều chỉnh mục tiêu và ước mơ

Đường đời khó tránh khỏi thất bại, nhưng dù bạn gặp khó khăn gì thì cũng không nên từ bỏ, mà hãy nói với mình rằng: Đã đến lúc phải thay đổi rồi!

Cuộc đời vô thường, nhưng vẫn cung cấp rất nhiều cơ hội cho ta thực hiện ước mơ. Chỉ là đừng quên rằng: có những lúc, bước ra một bước tích cực, cần bạn điều chỉnh khát vọng một chút, hoặc là lên kế hoạch cho những khát vọng mới. Thay đổi chủ ý hoặc là có nhiều khát vọng hơn, những điều này đều được khuyến khích.

6. Tha thứ cho những người chưa từng đối xử tốt với bạn

Tha thứ cho người khác cũng chính là bạn trao tặng một phần quà cho bản thân mình. Những người kiên cường và sáng suốt luôn biết tha thứ cho người khác. Tha thứ khiến bạn tập trung sức chú ý đến tương lai, chứ không phải là mãi lẩn quẩn với những chuyện đã qua.

Tha thứ cho hết thảy mọi chuyện đã qua, mới có thể biết rõ tiềm lực trong tương lai. Nếu không tha thứ, thì vết thương sẽ không bao giờ lành lặn được, thế thì không có cách nào bước lên phía trước. Không kể trước đây đã xảy ra chuyện gì, đó đều chỉ là chương tiết của đời người. Đừng nên đóng quyển sách lại, mà hãy lật sang một trang mới.

7. Cho người khác lòng yêu thương và thiện ý

Lòng yêu thương nếu như chỉ được trao cho những người mà bạn cho là xứng đáng, và gạt bỏ lại tất cả những người xa lạ, như vậy đây cũng không phải là lòng yêu thương, đây gọi là tâm vị kỷ. Lòng yêu thương đích thực thì sẽ bao dung hết thảy mà không chọn này lựa kia. Chính là như ánh Mặt trời, như làn gió mát đối xử bình đẳng với tất cả mọi người, bởi lòng yêu thương thật sự sẽ không phân giới hạn. Lòng yêu thương và thiện ý là một loại phương thức sống. Nơi có lòng yêu thương, thì lòng ích kỷ sẽ biến mất không còn vết tích.

8. Dù không được người khác ưa thích, cũng nên ủng hộ họ

Có những lúc, bạn thật sự chỉ cần nói vài lời giản đơn, lại có thể chạm đến đáy lòng người khác. Hãy lấy dũng khí dẫn bước vào những chỗ tối tăm, đưa người khác ra ngoài ánh sáng. Hãy nhớ, những người mạnh mẽ kiên trì tự ngã; nhưng người mạnh mẽ hơn sẽ đứng ra vì người khác, những lúc có năng lực, họ sẽ chìa ra bàn tay giúp đỡ cho người khác.

9. Từ trong thất bại mở ra một con đường

Những lúc cảm thấy xuống dốc, hoặc là đối diện thất bại, chớ nên cảm thấy nhục nhã hổ thẹn; bởi thật sự không có gì phải xấu hổ cả. Dù bạn đang trong giai đoạn gian nan, nhưng vẫn tiến bước về phía trước. Bạn một mạch mở ra một con đường, dần dần đã có khởi sắc, đây chính là chuyện đáng để tự hào. Hãy để mỗi người đều biết rằng: bạn của hôm nay còn mạnh mẽ hơn rất nhiều so với bạn của hôm qua, còn bạn của ngày mai lại còn mạnh mẽ hơn cả chính bạn của hôm nay.

10. Cần phải luôn ngẩng cao đầu, hơn nữa giữ mãi nụ cười trên môi

Mỗi một ngày của sinh mệnh đều là một trang sách trên con đường đời của mỗi người. Trừ phi sinh mệnh chấm dứt, nếu không đều luôn có cơ hội, đừng nên than khóc về quá khứ, mà hãy cầu nguyện sẽ bước qua khó khăn của ngày hôm qua. Đừng ráng gượng cười để che lấp nỗi đau trong lòng, hãy mang theo nụ cười mà trị lành vết thương. Đừng mãi chỉ nghĩ đến bi thương sầu khổ của đời người, mà hãy nghĩ đến những điều tốt đẹp vẫn còn đọng lại quanh ta.

Hãy lưu lại những gì tốt đẹp nhất của con người bạn trên thế gian này

Sau khi chúng ta rời khỏi thế giới này, bản thân mình lưu lại gì cho con người thế gian? Lưu lại gì cho con cháu đời sau? Là một món tiền lớn đáng ngưỡng mộ hay là một căn nhà lớn? Là một số sản nghiệp hay là một loại thái độ? Là một loại tinh thần hay là một tấm gương, hay thậm chí là một câu nói?

Người đàn ông lưu lại dấu tích ở khắp mọi nơi trong khu rừng

Nhà văn Jean Giono người Pháp từng viết một câu chuyện tên là “Người trồng cây hy vọng được vui vẻ”. Câu chuyện xảy ra vào đầu thế kỷ 20, kể về một người đàn ông ở vùng Provence của Pháp, trên bước đường mưu sinh đã trôi dạt tới một khu rừng đất đai cằn cỗi, tới nỗi cây cỏ cũng không sống được.

Người đàn ông đó sống một cuộc sống rất đơn giản: Mỗi ngày ông đều ra khỏi nhà từ sáng sớm và cần mẫn trông từng cây con, từng cây con xuống đất. Nhiều năm sau đó, vùng đất cằn cỗi ngày nào đã trở thành một khu rừng màu mỡ, lưu lại rất nhiều lượng nước trong đất, cây cối rậm rạp, chim muông rủ nhau tới làm tổ trên cây, các khe suối dần dần cũng có nước chảy, người trong làng cũng từng hộ từng hộ quay trở lại, thôn xóm vắng lặng năm nào bỗng chốc trở nên đông vui.

Câu chuyện thứ hai: Tại sao cha lưu lại nhiều tiền như vậy nhưng đều bốc hơi hết đâu rồi?

Có một cậu bé có cha làm bảo vệ ở một nhà máy, hoàn cảnh gia đình không được tốt cho lắm. Người cha thường nói với cậu: “Giá mà chúng ta có nhiều tiền như bác con thì tốt biết mấy…”

Anh trai của ba cậu là một người có sự nghiệp thành công, gia sản bạc triệu. Nhưng bác cậu lại không có con, thế là ba cậu đề nghị cho cậu bé sang làm con nuôi của anh trai và được bác cậu chấp thuận.

Kể từ đó cậu bé nghĩ rằng từ nay về sau mình sẽ là người có tiền rồi. Và rồi cái ngày “từ nay về sau” đó cũng đến rất nhanh, trong một lần đi du lịch, bác cậu đã không may bị tai nạn máy bay rồi qua đời, tất cả gia sản chỉ trong một đêm trở thành của cậu bé.

Cậu bé nhẽ ra muốn thi đại học, nhưng bỗng chốc trở thành một người giàu có bạc tỷ, tiền nhiều như nước, bao nhiêu ước mơ đều phút chốc đều có thể trở thành hiện thực, cần gì phải đi học một cách vất vả nữa. Cha mẹ ruột cậu cũng nghĩ vậy, chúng ta có tiền rồi, ai còn yêu thích học hành làm gì chứ!

Thế rồi từ năm này sang năm nọ, số tiền tiêu xài của cậu bé cũng lớn dần lên theo từng lần sinh nhật của cậu, cho tới khi cậu trưởng thành và trở thành một người vô gia cư, tiền bạc không còn nữa, sống lang thang ở ghế đá công viên. Lúc đó cậu bé nghĩ mãi nhưng không hiểu nổi, tại sao bác để lại cho mình nhiều tiền như thế chỉ trong phút chốc đã hết rồi?

Bạn có lưu lại được cái gì trân quý như hồi ức cho cháu chắt đời sau không?

Câu chuyện thứ 3: Là một người bạn gửi cho tôi, nội dung đại khái như sau:

Trên giảng đường lớp học nọ, giáo sư kêu gọi mọi người: “Chú ý! Xin mọi người chú ý! Sau đây tôi có vài vấn đề nho nhỏ muốn xin hỏi mọi người, ai biết xin hãy giơ tay.”

Câu hỏi là: “Trong các bạn có bao nhiêu người có thể hiểu rõ cha mẹ mình?” Có vẻ câu hỏi rất đơn giản nên mọi người ai cũng đều giơ tay. “Thế còn ông bà nội thì sao? Có bao nhiêu người có thể hiểu rõ?” Lần này số người giơ tay ít hơn, cùng lắm chỉ có 3 người. “Vậy bây giờ ai có thể cho tôi biết, có bao nhiêu người có thể hiểu rõ về ông cố, bà cố của các bạn?” Hơn 60 học sinh trong lớp, nhưng lần này chỉ có 1 người giơ tay. Liếc nhìn cả lớp một lượt, giáo sư lộ vẻ đắc ý trên nét mặt: “Cách nhau mới chỉ có gần hai thế hệ mà hầu như không có ai còn biết gì về ông cố và bà cố của mình rồi.”

“Chỉ mới có ba đời, mà các bạn đã quên tất cả rồi”. Giáo sư tiếp tục: “Nhưng điều này cũng không thể trách các bạn được. Ai bảo họ không lưu lại thứ gì đó chứ? Mọi người hãy suy nghĩ xem, bắt đầu từ đời này trở đi, ba đời sau, ví dụ những người ngồi đây không phải là các bạn, mà là cháu của các bạn, những gì về các bạn, họ biết được bao nhiêu? Họ có thể kể được bao nhiêu? Có phải cũng giống chúng ta hiện nay, quên hết sạch về tổ tông của mình? Nếu quả thật như vậy, thì đó cũng không phải là lỗi của chúng. Điều then chốt đó là, sau khi chết đi, bạn có lưu lại được những hồi ức đáng trân quý cho cháu chắt đời sau hay không.”

Nếu bạn muốn trồng một cái cây, có phải nên bắt đầu trồng từ bây giờ không nhỉ?

Ba câu chuyện này làm tôi nghĩ tới vấn đề: Sau khi chúng ta rời khỏi thế giới này, bản thân mình lưu lại gì cho con người thế gian? Lưu lại gì cho con cháu đời sau? Là một món tiền lớn đáng ngưỡng mộ hay là một căn nhà lớn? Là một số sản nghiệp hay là một loại thái độ? Là một loại tinh thần hay là một tấm gương, hay thậm trí là một câu nói?

Hầu như điều mà các bậc làm cha mẹ mong muốn lưu lại cho con cái đều là những thứ “khi sinh không mang theo đến, tử không mang theo đi” như tiền tài, gia sản, danh lợi. Nhưng thực ra những thứ vô thường và hữu hình mà bạn để lại cho con cháu đều có thể bị người khác lấy đi bất cứ lúc nào, chỉ có những thứ tồn tại trong đầu tâm trí, mới không thể nào bị tước đoạt được.

Trước đây khi trao đổi với sinh viên về những chuyên đề kiểu dạng như “đề tài về sinh mệnh”, tôi thường cảm thấy có hơi sớm. Khi tôi còn trẻ, cũng chưa nghĩ tới vấn đề như vậy, càng không có người hỏi qua. Tuy nhiên muốn là một người mỗi ngày trồng cây giống như người đàn ông ở Provence, nếu bạn muốn mỗi ngày trồng một cái cây, có lẽ nên trồng càng sớm càng tốt phải không bạn?

Cuối cùng xin cho phép tôi dùng câu chuyện này thay cho phần kết:

Có một cụ già trồng một cây non trong vườn, có người khách qua đường nhìn thấy, hỏi: “Cây này bao nhiêu năm mới có quả vậy?”

Cụ già trả lời: “Chắc khoảng 100 năm!”

Người khách lại hỏi: ”Cụ có lẽ chỉ sống được một năm nữa thôi nhỉ? Khi cái cây này kết quả, có lẽ cụ không còn sống nữa rồi, tôi muốn biết, tại sao cụ lại làm như vậy?”

Cụ già nhìn người khách và cười rồi nói: “Nếu tổ tiên của tôi cũng có lối suy nghĩ đó, tôi đã không được hưởng quả ngọt như bây giờ. Vườn trái cây này có thể sai quả như thế này, đó đều là do cha và tổ tiên của tôi đã trồng cây trước đó đó, tôi trồng cây cũng là hy vọng có thể để lại bóng mát cho con cháu sau này.”

Có một sự kiện sau khi Đức Hồng Y Shan Kuo-hsi biết mình bị ung thư phổi, trải qua nhiều năm điều trị mệt mỏi, ông quyết định sẽ đi tới các tỉnh thành phố để thực hiện bài diễn thuyết “Tour du lịch tạm biệt cuộc sống”. Cho dù bệnh tật vây quanh, thuốc thang nhiều hơn cơm nhưng ông vẫn nỗ lực ghi lại những đoạn phim ngắn để người ta có thể hồi tưởng về ông bất cứ lúc nào.

Steve Jobs, nhà sáng lập của Apple mặc dù qua đời ở tuổi còn rất trẻ, nhưng những tinh hoa của ông lưu truyền lại cho thế hệ sau vẫn tồn tại rất lâu, nhiều thế hệ sau này khó có thể đạt tới những thành tựu như ông.

“Sống, chính là vì để thay đổi thế giới, lẽ nào vẫn còn nguyên nhân khác hay sao?”, “Tôi muốn lưu lại dấu tích trong vũ trụ này”… Ông đã lưu lại rất nhiều triết lý nhân sinh và vẫn tiếp tục ảnh hưởng tới nay cho mọi người thế gian.

Đúng vậy, cho dù Steve Jobs dù đã không còn trên thế gian nữa, nhưng vẫn mãi sống trong lòng mọi người và có lẽ đây chính là ý nghĩa của cuộc sống…

Sống nửa đời người, bạn đã từng biết hạnh phúc đích thực tìm nơi đâu?

Hạnh phúc ở đâu, hình dáng ra sao, làm thế nào có được? Đó luôn là những câu hỏi bất diệt của con người. Ở đời, không ai là không mưu cầu hạnh phúc. Nhưng đôi khi, có vẻ như hạnh phúc lại rất kiêu kỳ, không dễ chiều lòng tất cả.

Có lần, người ta tiến hành một cuộc khảo sát để xem: Trên đời này, người nào là hạnh phúc nhất?

Đã có trên hàng vạn câu trả lời, trong đó có 4 người để lại ấn tượng sâu sắc nhất là: Nhà nghệ thuật huýt sáo thưởng thức tác phẩm vừa mới hoàn thành của mình; người mẹ tắm cho con; đứa trẻ đang xây đắp lâu đài trên bãi cát; bác sĩ hàng mấy giờ đồng hồ vất vả đã cứu sống được một bệnh nhân.

Hạnh phúc thật ra chỉ đơn giản như vậy, chỉ cần dùng tấm lòng để cảm nhận thì điều bình dị nhất cũng sẽ trở thành niềm hạnh phúc lớn nhất.

Lại có một câu chuyện thế này, một thi nhân tài hoa hơn người, gia cảnh giàu có, vợ đẹp con khôn nhưng dù thế nào cũng không cảm thấy hạnh phúc. Anh thiết tha cầu xin Thượng Đế giúp mình cảm nhận được hạnh phúc.

Thượng Đế trước tiên lấy đi tài sản của anh, rồi khiến vợ con rời xa anh, cuối cùng lấy đi tài hoa của anh. Chàng thi nhân đau đớn không còn thiết sống nữa.

Một tháng sau, Thượng Đế lại đem những thứ này trả lại cho anh. Chàng thi nhân ôm chầm lấy vợ con, quỳ mọp dưới chân Thượng Đế hồi lâu, trong lòng biết ơn sâu sắc, cảm ơn Người đã cho mình hiểu hạnh phúc là gì.

Một câu chuyện khác kể rằng, có một anh nhà nghèo phải sống chen chúc cùng cả gia đình trong gian nhà chật chội. Anh quỳ xuống cầu xin Thượng Đế giúp mình thoát khỏi cảnh túng quẫn này.

Thượng Đế bảo: “Con hãy đem gà và vịt cùng nhốt vào trong nhà, để chúng ở chung với con, một tuần sau hãy đến tìm ta”. Một tuần sau, anh nhà nghèo đã chịu đủ dày vò, khổ sở không nói nên lời, lần nữa cầu xin Thượng Đế.

Thượng Đế lại bảo anh hãy cùng nhốt trâu và dê ở trong nhà và sống cùng với mình, một tuần sau nữa hãy lại đến tìm ngài. Lại qua một tuần nữa, chàng trai nghèo đau khổ không thôi, sống không bằng chết, van xin Thượng Đế cứu giúp.

Thượng Đế lại bảo anh hãy đuổi hết số động vật này ra ngoài rồi tìm đến gặp ngài sau một một tuần nữa. Đúng hẹn, chàng trai nghèo tìm đến Thượng Đế và quỳ mọp dưới chân ngài, đội ơn sâu sắc vì ngài đã cho anh có được niềm vui đã đánh mất từ rất lâu.

Kỳ thực, Thượng Đế nào có ban cho những người kia bất cứ thứ gì. Chỉ đơn giản là ngài cho họ trải nghiệm sự mất mát rồi có lại được. Từ trong đau đớn, người ta lập tức tìm được cảm giác hạnh phúc.

Hạnh phúc không ở đâu xa, nó ở chính ngay những thứ tưởng chừng đơn giản bạn đang sở hữu. Khi mất đi chúng, người ta mới hiểu giá trị đích thực của hai từ hạnh phúc. Điều ấy chính như câu thơ này của Tô Đông Pha:

“Bất thức Lư sơn chân diện mục
Chỉ duyên thân tại thử sơn trung”

Lời thơ có ý tứ rằng, ta không biết được bộ mặt thật của núi Lư Sơn, chỉ vì thân ta đang ở trong núi ấy. Điều duy nhất mà Thượng Đế làm chính là giúp những anh chàng kia nhảy thoát ra để có được cái nhìn đúng đắn nhất.

Đôi khi chúng ta khổ não vì không tìm ra được hạnh phúc nhưng nó vốn không ở quá xa chúng ta, không phải là điều xa vời tưởng chừng ngoài tầm với. Chỉ là chính bản thân chúng ta đã tự đánh mất phương hướng, đứng núi này trông núi nọ mà thôi.

Bởi tự thân chúng ta trở nên tê dại, nên hạnh phúc ngay trước mắt mà nhìn như không thấy. Nhưng bạn hãy yên lòng, hạnh phúc trước sau vẫn âm thầm đi cạnh bạn.

Một ngày kia khi ta hoàn toàn tỉnh ngộ, chợt ngoảnh đầu nhìn lại sẽ thấy hạnh phúc vẫn đang đứng ở chỗ rẽ, mỉm cười với chúng ta, lặng lẽ chờ đợi cùng ta trở về nhà.

Trong phút chốc, ta sẽ không cầm được nước mắt, cảm khái vô cùng, và mới hay rằng: Cuộc sống thật tươi đẹp biết bao, cảm ơn trời đất về tất cả những gì ta có được.

Người thông minh chưa chắc đã hạnh phúc nhưng người trí huệ sẽ luôn tìm thấy niềm vui trong cuộc sống. Người khôn khéo chưa hẳn đã hạnh phúc nhưng người có tấm lòng rộng rãi, khoáng đạt sẽ luôn tìm được bến bờ bình yên. Hạnh phúc phải được nhìn thấy bằng tấm lòng rộng mở.

Có thể trên cõi đời này, bạn chưa hẳn là người hạnh phúc nhất, nhưng chắc chắn bạn cũng không phải là người bất hạnh nhất. Hạnh phúc giống như những bông hoa, mỗi một bông đều sẽ nở rộ rồi cũng đều héo tàn. Tuy không thể ở mãi trong hạnh phúc nhưng hẳn bạn đã từng biết được hạnh phúc là gì, ít nhất một lần.

Ông Trời để cho mỗi chúng ta trở thành một bông hoa là để ta làm phong phú thêm cuộc đời này. Chúng ta sống chẳng phải chỉ vì để kéo dài chu kỳ hoa nở, tăng thêm mùa hoa của riêng mình mà thôi. Mỗi một mùa hoa đều có vẻ đẹp riêng, không thể nói là ai hay ai dở được.

Đời người cũng giống đời hoa. Mỗi giai đoạn đều có chỗ đáng để ta trân quý và hồi tưởng lại. Chúng ta nhớ làm sao cái hồn nhiên của tuổi thơ, nhiệt huyết thời thanh xuân, cái trầm ổn tuổi trung niên hay sự ung dung lúc tuổi già.

Ta chỉ nên nhớ đến những điều ấy. Bạn tuyệt đối đừng chỉ nhìn thấy những khoảng màu xám xịt, đừng nghĩ về sự vô tri lúc còn nhỏ dại, thói lỗ mãng của thời niên thiếu, tính dại khờ của tuổi thanh niên, thói sành đời của tuổi trung niên hay sự chậm chạp, trì trệ của tuổi già.

Có câu nói như vậy: “Vận mệnh một nửa ở nằm ở trong tay của mình, một nửa còn lại ở trong tay của ông trời“. Con người luôn không ngừng nỗ lực, vươn lên chế ngự số mệnh của mình nhưng dẫu gì đi nữa người ta cũng chỉ có thể nắm giữ được một nửa nó mà thôi.

Còn ý trời, sự an bài của Thần Phật mới quyết định một nửa vế sau. Chẳng phải người xưa hay nói: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” đó sao?

Vậy thì khi thân mình ở trong nghịch cảnh, bạn hãy luôn nghĩ rằng: “Ông trời giao trọng trách lớn cho ta, ắt phải khiến ta nhọc sức, lao tâm khổ tứ. Có nhọc sức, mệt trí như vậy rồi mới đắc được những điều vinh diệu, hạnh phúc“.

Dù thế nào đi nữa, bạn hãy còn có một nửa vận mệnh nắm giữ trong tay mình, không thể bị sóng cuốn theo dòng, không thể tự mình sa ngã. Chỉ cần bản thân không tự gục ngã, thì không người nào có thể đánh đổ bạn được.

Còn khi đắc ý, ở trong cảnh tượng sung túc, phồn hoa ta lại càng phải thanh tỉnh mà tự răn mình. Sở dĩ người ta có thể thành công, hạnh phúc một nửa là nhờ vào năng lực, nửa còn lại là do cơ hội quyết định

Khi cơ hội đều ngang nhau, năng lực tất nhiên sẽ chiếm thượng phong. Rất nhiều người tạm thời chưa thành công vốn không phải tài năng thua kém mà chỉ là thiếu mất một cơ hội mà thôi.

Vậy thì rốt cuộc hạnh phúc đang nằm trong tay ai?

Đáp rằng những ai biết tự hài lòng chính là người hạnh phúc nhất. Ở đời, bạn chỉ cần một mái nhà nhỏ đủ sống, một gia đình ấm êm, một công việc chẳng quá cao sang nhưng đủ trang trải kế sinh nhai, một thú vui giản dị, một người bạn tri âm và một ước mơ. Như thế chẳng phải đã là hạnh phúc đó sao?

Có người cả một đời là truy đuổi tiền tài, danh vọng, bạc vàng, mỹ nữ. Họ cho rằng đó mới chính là thứ hạnh phúc đáng theo đuổi nhất đời. Nhưng khi càng lún mình sâu hơn vào vũng lầy danh, lợi, tình, người ta càng khó thoát ra dù có vùng vẫy thế nào đi nữa. Đó có thực sự là hạnh phúc không? Rất khó trả lời.

Thiên lý mã trên đời này lúc nào cũng có sẵn nhưng người có tài nhận biết được ngựa hay như Bá Nhạc thì lại quá hiếm hoi. Không phải cuộc sống của chúng ta thiếu đi cái đẹp, mà là bởi ta đang thiếu đi một đôi mắt để nhìn ra chúng.

Hãy làm một người có đôi mắt biết nhìn ra hạnh phúc, biết cảm nhận hạnh phúc. Và chỉ có tích phúc, hành thiện, sống một đời không tham lam mới có thể lưu giữ được hạnh phúc được lâu dài vậy.

Giáo dục của người Đức đạt một nửa giải Nobel của thế giới: Cấm đi học trước tuổi!

Các bậc phụ huynh ở Việt Nam sẽ rất hồ hởi và hãnh diện khi con em mình nói tiếng Anh như gió hay học thuộc lòng thơ ca nhiều hơn con nhà hàng xóm, đồng nghiệp. Nhưng người Đức lại quan niệm rằng ngoài chút hư vinh đó ra thì việc giáo dục trẻ trước độ tuổi lại lợi ít hại nhiều.

Từ khi có giải Nobel đến nay, người Đức (gồm cả những người gốc Đức đã di cư tới Mỹ và Canada) chiếm gần nửa số người đoạt giải. Nói cách khác, 82 triệu người Đức lại giành được một nửa giải Nobel, còn hơn 6 tỷ người còn lại trên Trái đất chỉ đạt được một nửa còn lại.

Lẽ nào đây lại là vấn đề về chủng tộc? E rằng không hề đơn giản như vậy!

Chúng ta hãy cùng nhìn lại cách giáo dục của Đức, xem điều gì đã tạo nên kỳ tích cho nước Đức như vậy!

Những điều đáng kinh ngạc trong nền giáo dục của Đức

  1. Giáo dục mầm non của Đức không phân lớp lớn nhỏ, tất cả các độ tuổi đều học cùng nhau.
  2. Trường học của Đức đều chỉ áp dụng chương trình học nửa ngày. Buổi chiều trẻ không có bài tập về nhà, chỉ có các hoạt động ngoại khóa.
  3. Tới lớp 3 trẻ em Đức mới bắt đầu học tiếng Anh.
  4.  Bậc tiểu học của Đức chỉ có 4 năm. Sau đó sẽ căn cứ vào giới thiệu của thầy cô, trẻ sẽ lên lớp và học những chuyên môn khác nhau theo sở trường của mình. Tỷ lệ đỗ đại học ở Đức không cao như ở Việt Nam. Nhưng người Đức coi trọng những khóa học thực tiễn. Tiến độ môn toán học trừu tượng trong chương trình học của họ ít nhất là chậm 2 năm so với Việt Nam.
  5. Vì sao 82 triệu người Đức lại chiếm một nửa giải Nobel của thế giới? Đáp án chính là: Đừng khai thác trí lực của trẻ khi còn quá sớm.
Những điều đáng kinh ngạc trong nền giáo dục của Đức
Những điều đáng kinh ngạc trong nền giáo dục của Đức. (Ảnh: additudemag.com)

Một bà mẹ có con trai thông minh trước tuổi mong muốn con mình được học nhiều hơn, và bất ngờ trước câu trả lời của cô giáo…

Sandra đến từ Cologne viết rằng: “Năm nay con trai tôi 7 tuổi. Tôi đề xuất với cô giáo là có thể dạy thêm cho con mình một số kiến thức đặc biệt hơn hay không. Bởi vì khi mới 5-6 tuổi, ở nhà cháu đã tự học đọc, học viết một cách cơ bản và làm được các phép tính đơn giản rồi. Cô giáo phản đối và nói rằng: ‘Chị nên giữ cho con mình giống như những đứa trẻ cùng tuổi’”.

Một tuần sau tôi lại đến gặp cô giáo và mang theo giấy chứng nhận IQ trước tuổi của thằng bé, hy vọng cô ấy hiểu và ủng hộ tôi. Nhưng cô giáo lại nhìn tôi bằng một ánh mắt khó hiểu, giống như tôi đến từ hành tinh khác vậy.

Cô giáo giải thích thêm rằng: “Khai thác trí lực của trẻ một cách quá mức, hoàn toàn không phải là một việc tốt. Bởi vì người lớn cần phải giữ lại không gian cho trí tưởng tượng của trẻ được bay bổng. Quá nhiều kiến thức sẽ khiến bộ não của trẻ trở thành một chiếc ổ cứng máy tính! Nếu cứ kéo dài như vậy thì bộ não của trẻ sẽ dần dần trở thành ổ lưu trữ, không còn chủ động suy nghĩ nữa”.

Nhìn thấy ánh mắt năn nỉ của tôi, cô giáo đổi giọng an ủi nói: “Chị cứ yên tâm, hãy để cháu vui chơi thỏa thích. Bọn trẻ vừa học vừa chơi ấy mà. Giờ cháu còn nhỏ, chị có lo lắng nhiều hơn thì cũng chỉ là điều vô ích mà thôi!”.

Dẫu đã được giải thích tường tận như vậy, tôi vẫn không tin vào tai mình và không hiểu vì sao chính phủ Đức lại cấm giáo dục trẻ trước độ tuổi. Tôi nhất quyết muốn làm rõ vấn đề này nên tới tìm vài chuyên gia giáo dục của Đức. Kỳ lạ là họ bảo tôi hãy tìm đọc cuốn “Pháp luật cơ bản” (tức Hiến Pháp) của Đức.

Hiến Pháp của Đức cấm giáo dục trước tuổi đi học

Khi giở cuốn “Pháp luật cơ bản” của nước Đức ra tôi mới giật mình. Khoản 6 điều 7 trong đó quy định một cách rõ ràng rằng: “Cấm thành lập trường giáo dục trước độ tuổi đi học”. Tôi vẫn không hiểu vì sao Hiến Pháp của nước Đức lại quy định như vậy, bèn bấm bụng đi thỉnh giáo các chuyên gia giáo dục một lần nữa.

Nhưng các vị chuyên gia này, họ đều nói với tôi một cách chắc nịch rằng: “‘Nhiệm vụ duy nhất’ của trẻ trước khi vào lớp 1 là trưởng thành một cách vui vẻ”. Thông qua các bộ luật của quốc gia, chính phủ Đức cấm khai thác trí lực của trẻ quá sớm, để tránh biến bộ não của trẻ thành một cái ổ cứng!!! Họ cũng nói y xì cô giáo của con trai tôi: “Hãy để lại nhiều hơn không gian cho trí tưởng tượng của trẻ có thể bay bổng. Bởi vì trẻ bẩm sinh đã thích chơi đùa. Cho nên chúng ta phải làm những việc phù hợp với bản tính bẩm sinh của trẻ, chứ không nên làm trái với quy luật trưởng thành của trẻ”.

Tôi vốn cho rằng ở Đức chỉ có trẻ lớp mầm non mới không được phép học những kiến thức chuyên ngành. Sau này tôi càng ngạc nhiên hơn khi phát hiện, học sinh tiểu học cũng không được học thêm các giáo trình bên ngoài, dẫu chúng có thông minh hơn độ tuổi của mình rất nhiều.

Giáo dục trước độ tuổi sẽ phá hoại trí tưởng tượng của trẻ

Ngược lại với các nước Châu Âu, trẻ em ở Việt Nam hầu như đã học xong những kiến thức của năm đầu bậc tiểu học khi đang học lớp mầm non. Bởi lẽ các bậc phụ huynh đều có lý do để lo lắng cho con em của mình. Kỳ thực sự lo lắng này là thừa thãi!!!

Những đứa trẻ ở châu Âu được chơi đùa thỏa thích, chúng có tuổi thơ hồn nhiên trong sáng của mình. Bề ngoài thì có vẻ như chúng đã thua với trẻ nhỏ ở Việt Nam ngay từ vạch xuất phát. Nhưng kỳ thực không phải vậy. Người châu Âu nhận thức một cách phổ biến rằng, trẻ nhỏ có quy luật trưởng thành của riêng chúng. Ở giai đoạn nào thì chúng cần làm những việc tương ứng với giai đoạn đó.

Trên bề mặt giáo dục trước độ tuổi ở Việt Nam và giáo dục cơ sở khá thiết thực. Nhưng trí tưởng tượng và khả năng suy ngẫm của chúng sẽ bị phá hoại! Trẻ sẽ tiếp thụ kiến thức một cách bị động mà bỏ mất thói quen chủ động suy nghĩ trước một vấn đề. Hậu quả của những bộ não như chiếc ổ cứng là hủy đi tuổi thơ hồn nhiên, ngây thơ những đứa trẻ.

Tôi vốn cho rằng chỉ ở Đức mới có quy định giáo dục kỳ quặc như vậy. Nhưng sau khi khảo sát tình hình giáo dục của các quốc gia châu Âu khác, tôi mới phát hiện ra rằng, về cơ bản thì cách làm của họ đối với trẻ nhỏ là như nhau.

Giáo dục trước độ tuổi sẽ phá hoại trí tưởng tượng của trẻ
Giáo dục trước độ tuổi sẽ phá hoại trí tưởng tượng của trẻ. (Ảnh: On.ge)

Nếu cho rằng nhất định phải “giáo dục” trẻ  trước độ tuổi đi học, thì trọng điểm “giáo dục” chỉ có 3 phương diện sau đây:

  1. Những kiến thức xã hội cơ bản như: Không được sử dụng bạo lực, không được nói chuyện lớn tiếng.
  2. Khả năng làm việc của trẻ: Trong độ tuổi mầm non trẻ sẽ làm những công việc thủ công tùy theo sở thích của mình. Điều này cũng giúp chúng có thể chủ động làm những việc cụ thể ngay khi còn nhỏ.
  3. Bồi dưỡng năng lực cảm xúc, sự tự tin cho trẻ.

Có lẽ chúng ta cũng phải nhận thức lại về “vạch xuất phát” và thể chế giáo dục của nước Đức. Chúng ta nên chăng quay trở lại với cách giáo dục phù hợp với quy luật của tự nhiên, để trẻ được là chính mình và có một tuổi thơ đúng nghĩa!

Vì sao nói: Hướng dẫn con trẻ tự lập chính là bí quyết sinh tồn?

Một học giả đã từng nói: ‘Suy nghĩ có thể cứu vớt vận mệnh của một người’. Thực tế đúng là như vậy, người có khả năng suy nghĩ độc lập mới có sự sáng tạo, mới nắm được vận mệnh của mình. Người không suy nghĩ độc lập thì sẽ không có tính độc lập.

Nhà khoa học người Pháp là John Faber đã từng làm thí nghiệm như sau:

Có một loại sâu sống theo kiểu bầy đàn, mỗi lần ra ngoài kiếm ăn đều sẽ do một con trong số đó dẫn đầu, những con khác thì xếp thành một hàng rất ngay ngắn đi lên phía trước. John Faber đã đặt những con sâu này bên cạnh chậu hoa, để chúng nối đuôi nhau tạo thành một vòng tròn, sau đó rắc thức ăn mà loại sâu này thích nhất ở cách chúng khoảng 15cm.

Những con sâu này cứ theo con sâu phía trước đi không ngừng, đi quanh chậu hoa hết vòng này đến vòng khác, không ăn không uống suốt mấy ngày, những con sâu giữ kỷ luật từ đầu đến cuối không làm loạn đội ngũ, cuối cùng đã chết đói. Trước khi chết chúng vẫn không biết thức ăn ở chỗ cách chúng gần như vậy.

Trong thí nghiệm trên, chỉ cần có một con sâu không hùa theo đám đông là có thể cứu sống mình và vận mệnh của những con sâu khác. Đáng tiếc là không có bất kỳ con sâu nào có thể làm được điều này.

Con người sống trong xã hội, nếu thiếu khả năng phán đoán và suy nghĩ độc lập mà nhắm mắt làm liều hoặc bị người khác ‘dắt mũi’ thì có lẽ cũng sẽ giống như những con sâu kia vậy. Những nhân vật thành công sẽ không ngoan ngoãn đi theo những ‘con sâu’ khác một cách mù quáng, họ sẽ phán đoán rồi mới đưa ra quyết định xem có đi theo người khác hay không.

Vương Vĩnh Khánh được coi là “thần tài của Đài Loan” với tổng tài sản khi qua đời vào năm 2008 là 6,8 tỷ USD. Ông khởi đầu sự nghiệp với 200 đồng bạc vốn vay.

Nhà nghèo, nên tới năm 15 tuổi ông mới tốt nghiệp tiểu học và phải nghỉ học ở nhà giúp gia đình mưu sinh. Sau khi nghỉ học, ông đi làm tạp vụ cho nhiều nơi và cuối cùng làm tạp vụ cho cửa hàng bán gạo. Máu kinh doanh ngấm vào đầu lúc nào không biết. Ông nhờ cha chạy vạy đi vay được 200 tệ mở cửa hàng riêng bán gạo.

Cửa hàng bán gạo của ông đã nhỏ lại ở vị trí không đẹp và ra đời sau các tiệm gạo khác trong khu vực, vì vậy ông Vương đứng trước nguy cơ mất cả 200 đồng tiền vốn.

Từ cái khó, Vương Vĩnh Khánh liền nghĩ cách sinh tồn, vươn lên trong nghịch cảnh. Ông mang gạo tới từng gia đình, một việc mà các chủ cửa hàng gạo chưa bao giờ làm. Gạo thời đó nhiều tạp chất như trấu, sạn… nên ông đã cho sàng sảy lại, làm sạch bóng trước khi giao cho khách hàng. Gạo được mang tới từng gia đình, ngon, sạch, giá cả cạnh tranh làm khách hàng rất hài lòng.

Không chỉ sáng tạo trong kinh doanh, Vương Vĩnh Khánh còn là một người rất chú ý và chiều khách. Ông tìm hiểu tất cả các khách hàng của mình và đoán định thời điểm khách phải mua gạo để chủ động mang gạo đến cho khách mà không phải đợi khách gọi.

Đa số khách hàng của ông Vương là công nhân và người lao động nghèo, nhiều lúc họ không có tiền khi ông chủ tiệm gạo mang gạo đến định kỳ. Vì thế ông chủ Vương quyết định cứ đến hạn ông sẽ đem gạo đến cho khách hàng nhưng nếu khách chưa có tiền thì ông sẽ nhận tiền sau.

Sở dĩ, Vương Vĩnh Khánh có thể thành công như vậy ngoài vận may, bản thân ông vô cùng trung thực, có suy nghĩ riêng của mình, có thể tạo ra ưu thế cạnh tranh từ những chi tiết nhỏ nhặt. Đây chính là khả năng suy nghĩ độc lập.

Nhân vật thành công sẽ không theo số đông, nước chảy bèo trôi. Khi họ cảm thấy những quy phạm mà người đi trước lập ra không hợp lý thì họ sẽ đưa ra thay đổi khi điều kiện thích hợp. Vì những lý do sau đây:

Thứ nhất, họ nhìn thấy chuyển biến từ trong nguy cơ, nhìn thấy cơ hội tiềm ẩn trong cái bình thường, sẽ không vì cảm xúc dao động hoặc hành vi của người khác ảnh hưởng đến khả năng phán đoán của mình.

Thứ hai, họ có thể phân biệt được sự khác biệt giữa sự thật với cảm giác, giả thiết, lời đồn. Sự thật là những chuyện đã xảy ra hoặc đang xảy ra, còn cảm giác, giả thiết hay lời đồn đều chưa được chứng thực. Trước khi chứng thực họ sẽ đặt dấu chấm hỏi trong lòng chứ không tùy tiện tin vào.

Thứ ba, khi tiếp thu lời bàn luận của người khác, họ sẽ dùng kinh nghiệm của bản thân để phán đoán giảm thiểu sự nhầm lẫn.

Thứ tư, khi có người muốn làm ảnh hưởng đến mình, họ sẽ đối mặt với thái độ thận trọng, suy đoán động cơ của đối phương, tìm kiếm sự thật để tìm hiểu chân tướng.

      Những bài học thực tế cho chúng ta thấy bồi dưỡng khả năng suy nghĩ độc lập cho trẻ là điều rất cần thiết.

Vì thế, chúng ta cần bồi dưỡng khả năng tư duy rộng mở, linh hoạt, nhanh nhạy cho con để khơi dậy được trí tuệ của con. Vậy, cha mẹ cần bồi dưỡng khả năng suy nghĩ độc lập cho con như thế nào? Tích cực dẫn dắt con suy nghĩ độc lập là phương pháp chủ yếu để giúp con nhận thức và giải quyết vấn đề.

Rất nhiều trẻ khi gặp vấn đề nan giải thường hy vọng cha mẹ cho mình đáp án. Nếu cha mẹ trả lời ngay, mặc dù giải quyết được vấn đề lúc đó của trẻ nhưng xét về lâu dài, con sẽ hình thành thói quen ỷ lại vào cha mẹ. Khi con gặp vấn đề sẽ không suy nghĩ độc lập, không tự tìm đáp án, điều đó tất nhiên là không có lợi cho sự phát triển của con.

Mỗi cha mẹ hãy khích lệ để con có suy nghĩ độc lập, dẫn dắt con suy nghĩ, phân tích, vận dụng kiến thức và kinh nghiệm mà mình có để tự tìm đáp án. Như thế thì khả năng tư duy của con sẽ được nâng cao.

Có người đánh con mình, cha mẹ nên dạy con đánh lại hay không?

Giáo dục con cái luôn là vấn đề quan trọng với các bậc làm cha làm mẹ. Trong quá trình phát triển trưởng thành của con, sự va chạm xung đột với bạn bè cùng trang lứa là điều khó tránh khỏi. Đôi khi chúng ta tự hỏi “Hôm nay con bị bắt nạt, bị đánh như vậy, mình có nên dạy con đánh lại bạn không?”.

Đứng từ góc độ người làm cha làm mẹ, đôi khi chúng ta rất khó xử. Một mặt, vừa sợ con mình bị bắt nạt, mặt khác cũng vừa lo lắng con sẽ thành một đứa trẻ bạo lực nếu bản thân cổ vũ, xúi giục con đánh lại bạn. Điều đó có thể hình thành những tính cách không tốt cho con sau này.

Thất vọng nhìn con trai yếu đuối

Hàng ngày nhìn Tít – 7 tuổi đi học về với những vết bầm trên vai, trên cổ, chị Hằng (Hàn Thuyên, Hà Nội) buồn và thất vọng lắm. Chị ước giá như Tít “đanh đá” hơn lên một chút thì có phải con sẽ không bị những trận bắt nạt vô cớ của các bạn như thế này không.

Chị tâm sự, Tít cao lớn, khỏe mạnh, mỗi tội lành quá. Trước đây, chị rất thích tính con hiền hòa thế này nhưng sau khi con bị bắt nạt quá nhiều, chị đâm ra chán nản. Chị đưa con đi học võ những mong con biết tự vệ, mạnh mẽ hơn song chẳng ăn thua. Con vẫn bị bắt bạt, nhận những cú bạt tai từ bạn bè.

Chị thắt ruột khi nghe con mách mẹ: “Bạn Tú cứ trêu con là con gái, con phải làm gì hả mẹ?”. Chị bực mình bảo con: “Bạn nào đánh con, trêu con, bắt nạt con, con đánh lại cho mẹ, đánh thật đau vào”. Thế nhưng tình hình vẫn không có gì tiến triển.

Trên đây là một câu chuyện rất điển hình, xảy ra phổ biến trong những gia đình có trẻ nhỏ. Người làm cha mẹ như chúng ta hành xử ra sao trong những trường hợp thế này? Liệu có nên khuyến khích con đánh lại bạn không?

Hãy cùng tìm hiểu xem người phương Tây dạy con ra sao khi con bị đánh hoặc bị bắt nạt?

1. Dùng lời nói để chấm dứt sự việc

Dạy trẻ cách dùng lời nói để bày tỏ thái độ của mình với những bạn đánh hoặc bắt nạt mình. Ngữ khí cần kiên định, trung lập và không mang tính công kích. Ví dụ một số cách nói bạn có thể dạy con:

    • “Mình không thích bạn làm như vậy!”
    • “Không được phép đánh người”
    • “Đánh người là không đúng”
    • “Cô giáo dạy không được đánh người khác

Đối với những bé còn ít tuổi, khi bản thân bộc phát các hành vi cử chỉ như: đẩy, đánh hoặc đá người khác thì thực sự chúng cũng chưa ý thức được hành vi của mình sẽ làm tổn thương người khác.

Chỉ vì con chưa biết khống chế cảm xúc của mình, cũng không biết bày tỏ cảm xúc của mình bằng cách nào mới là đúng nên mới có những biểu hiện như vậy. Khi con bạn nói với bé bắt nạt chúng những câu nói như vậy, mọi hành động bộc phát công kích của bạn chúng sẽ ngừng lại.

2. Chủ động rời khỏi hiện trường

Dạy con cách tự rời khỏi hiện trường vụ xung đột và giúp con hiểu tầm quan trọng của việc đó. Khi trẻ nhỏ xảy ra mâu thuẫn mà con bạn bị đánh hoặc bị đẩy ngã, bạn hãy dạy con cách tránh xa, không cần đối chọi gay gắt với bạn. Rất nhiều bậc cha mẹ sẽ cho rằng, nếu làm như vậy thì để con mình bị bắt nạt à? Không phải sẽ để lợi thế cho đứa trẻ kia hay sao?

Kỳ thực không phải như vậy, con chủ động rời khỏi hiện trường tranh chấp va chạm không phải là biểu hiện của sự yếu đuối và nhát gan, mà đó là thể hiện của sự tự tin, khoan dung và dũng cảm. Hành động này có thể giúp con tránh được càng nhiều những tổn thương tiềm ẩn có thể xảy ra trong cuộc tranh chấp đó.

Ví dụ, khi hai đứa trẻ cùng tranh nhau một món đồ chơi, một trong hai đứa trẻ bắt đầu có hành vi xô đẩy, đánh hoặc đá bạn. Sau khi một trong số chúng tự động bao dung nhường lại đồ chơi cho bạn, cuộc va chạm đó sẽ chấm dứt. Đứa trẻ khoan dung kia cũng sẽ tìm thấy nhiều cơ hội khám phá các loại đồ chơi khác hơn.

Đây không phải là biểu hiện của sự yếu đuối, mà là một loại trí tuệ của con người. Điều này sẽ giúp con hình thành thói quen nhìn sự việc một cách bao dung, không chỉ giới hạn nhãn quan trong một sự việc, một thời điểm.

3. Câu chuyện của hai cậu con trai

Bảo và Nam năm nay vừa tròn năm tuổi. Cha mẹ chúng có một nhóm bạn khá thân hay tụ tập nên hai đứa thường xuyên có cơ hội chơi cùng nhau. Lần đầu tiên chơi chung, hai đứa nhỏ đã xảy ra xung đột.

Khi cùng chơi một đồ chơi, hai đứa bắt đầu tranh giành món đồ đó. Bảo không giành được đồ chơi liền đánh Nam một cái. Nam tức giận và quát lớn: “Bạn làm như vậy là sai rồi!”. Không ngờ Bảo không những không thay đổi lại càng tức giận đánh và đá Nam. Hai bà mẹ liền can thiệp và tách hai đứa nhỏ ra, mẹ Bảo nói với con: “Có chuyện gì vậy, các con không được đánh nhau!”. Mẹ Nam thì nói với con: “Con làm đúng rồi, không đánh bạn mới là đứa trẻ ngoan”.

Sự việc sau đó càng có sự đối lập rõ ràng hơn. Bảo càng kích động bắt đầu gào khóc, lăn ra đất ăn vạ, vùng vằng không nghe lời… Còn Nam thì ngược lại, vì được những lời của mẹ khích lệ, cậu bé đứng cách xa Bảo và đi theo bên mẹ. Chuyện cũng không dừng lại ở đó. Bảo không ngừng gào khóc lăn lộn dưới đất làm mẹ cậu bé phải bế cậu mang ra một nơi khác và giáo huấn một hồi. Mặc dù sau đó mẹ Bảo có bắt xin lỗi Nam, nhưng cậu bé vẫn im lặng không nói gì và chạy ra chỗ khác.

Mẹ Bảo ngại ngùng nói với mẹ Nam: “Xin lỗi chị nhé, tính khí thằng Bảo nóng nảy quá. Thằng Nam nhà chị thật thà thế, biết nghe lời người lớn”. Kỳ thực ẩn ý trong lời mẹ Bảo mà mọi người đều có thể hiểu đó là “Thằng Nam đúng là thằng bé ngốc quá, đánh nó mà nó cũng không phản ứng gì. Thằng Bảo nhà tôi mới thật là đứa trẻ thông minh, đã chiếm lợi về mình rồi còn khóc lóc để mọi người ngại không ai nói gì được nó nữa”.

Khi giáo dục con trẻ tuyệt đối bạn không nên dạy chúng “đánh lại bạn” khi bị bắt nạt. Từ nhỏ nên dạy con biết độ lượng khoan dung với người khác. Từ nhỏ nên dạy con học cách khoan dung và nhẫn nại với mọi người, như vậy khi lớn lên con mới có thể sống vui vẻ có ích hơn, lại không cần lo lắng con gây sự sinh chuyện bên ngoài.

Lòng khoan dung chính là một loại đức hạnh cũng là một loại trí huệ cần có của mỗi người. Nếu cha mẹ có thể dạy con biết khoan dung với mọi người thì con sẽ biết cách cởi mở giao tiếp với bất kể người nào.

Khi biết khoan dung với người khác, con bạn sẽ biết cách giao tiếp liên hệ với mọi người xung quanh một cách tốt đẹp hơn. Từ đó cuộc sống của chúng cũng trở nên vui vẻ và có ý nghĩa hơn. Lòng khoan dung là một phẩm chất quan trọng cần có của mỗi người. Quan trọng hơn, với con trẻ đó là năng lực giúp con có thể phát triển một cách khỏe mạnh cả về thể chất và trí tuệ trong xã hội hiện đại.

Làm thế nào để sửa đổi tính ích kỷ hẹp hòi của con?

  • Tạo cơ hội để con có thể tiếp xúc được nhiều hơn với bạn bè cùng trang lứa.
  • Khi con gặp phải mâu thuẫn hoặc tranh chấp bất hòa trong quá trình chơi đùa với bạn, không nên thiên vị bênh vực con mình, cần giúp con hiểu và đánh giá đúng bản thân mình đang sai hay đúng.
  • Khi con có mâu thuẫn va chạm với bạn, các bậc phụ huynh nên hướng dẫn giúp con tự suy nghĩ tìm ra nguyên nhân gây ra mâu thuẫn. Bạn hãy dạy con tự kiểm điểm sai sót của bản thân, đồng thời cũng nên bao dung với những thiếu sót lỗi lầm của bạn.
  • Dạy con học cách chân thành tương trợ với bạn bè, cho dù bạn có mắc lỗi cũng cần tha thứ khoan dung với bạn.
  • Người lớn luôn phải là tấm gương cho con trẻ noi theo, khi gặp phải mâu thuẫn và xung đột, cần khoan dung độ lượng, không tính toán được mất.
  • Trong trường hợp cần thiết, cũng cần để con tự trải nghiệm những tác hại của tính ích kỷ hẹp hòi.