TU ĐỂ LÀM GÌ mà xem ra người tu có vẻ thiệt thòi, chịu đựng nhiều quá vậy?

Tu không cần đi chùa nhiều, đọc kinh nhiều, ăn chay giỏi, làm công quả chuyên cần, xây chùa cất miếu…nếu làm được những điều này thì tốt. Nhưng vấn đề chính yếu của tu là thấu hiểu và “quyết tâm” ứng dụng những điều Phật dạy vô đời sống hằng ngày của mình.

Lâu không gặp tôi ở mấy đám tiệc tùng, nhảy nhót, ca hát bạn bè hỏi thăm tôi đi đâu mà vắng bóng lâu vậy? Tôi trả lời: “Đi chùa, bây giờ tôi tu rồi!”.

Nghe tôi trả lời như vậy bạn bè thất vọng kêu trời “Đời sống ba vạn sáu ngàn ngày có là mấy, sao đang làm ăn thành công như vậy mà lại bỏ ngang, lo tu?”. Mấy người trong bàn tiệc bắt đầu xoay qua đề tài “Tu và Đạo Phật”. Người thì bàn bây giờ còn trẻ để hưởng cho hết cuộc đời trước, khi nào già rồi hãy tu. Người thì lý luận sống là tranh đấu, tu là bi quan yếm thế. Có người tiếc rẻ cho mấy người tu, được sống ở Mỹ có nhiều thịt cá không ăn cho khoái khẩu mà ăn chay, kiếp sau sinh ra ở Ấn Độ hay Phi châu không có thịt cá để ăn, sẽ hối tiếc! Hồi trước nếu nghe người nào nói trái ý, xúc phạm đến tôn giáo của tôi là tôi nhào vô cãi lẫy, hùng biện, tranh luận, phải trái hơn thua, có khi nổi nóng tôi nói nặng làm mất bạn bè vì những chuyện không đâu. Nay nhờ đi chùa và nghiền ngẫm kinh sách tôi không phản ứng ngay, mà trầm tĩnh quan sát người ta thảo thuận. Tôi thấy người nào cũng giành phần đúng về mình, người nào không đồng ý với mình thì cho người đó dốt, không hiểu vấn đề… Thấy mấy ông bạn bàn về triết lý cao siêu của tôi nghĩ đến chuyện những người mù xem voi.

Không riêng gì những người không đi chùa nên không hiểu đạo, mà ngay cả người đi chùa thường xuyên cũng hiểu đạo sai lầm. Phần đông người đi chùa là ngững người đàn bà lớn tuổi, nhiều bà cầm nhang lạy tứ phương rất mềm dẻo, thiện nghệ. Nhưng họ đi chùa không mong gì hơn là để “được phước kiếp này và kiếp sau”. Kiếp này được Trời Phật phù hộ cho có được đời sống an lành, con cái ăn học nên người, gia đình yên vui hạnh phúc. Kiếp sau được sinh ra ở cõi Trời, hay có làm người thì được sinh ra trong gia đình khá giả hơn…

Rất nhiều người đi chùa, cúng dường nhiều chỉ để cầu xin Trời Phật phù hộ cho mình, cho gia đình mình (ngã) có đời sống tốt đẹp hơn (tham). Đi chùa với tâm ý trao đổi tiền bạc với phước đức như vậy thì chẳng khác nào bỏ tiền ra “hối lộ” Trời Phật, bỏ tiền ra “mua” phước đức. Đi chùa như vậy, có đi suốt đời cũng không giúp ích gì cho mình và cho người bao nhiêu. Có người nói ” Bữa nay tôi ăn chay, nếu không tôi cào nhà nó rồi”. Ca dao mình cũng có nhiều câu châm biếm mấy người đi chùa mà tâm không tu là “Miệng tụng Nam mô mà bụng chứa một bồ dao găm”.

Các bà chị của tôi rất thích đi hành hương, nhất cử mà lưỡng tiện, vừa du ngoạn cảnh lạ đường xa, vừa được thăm viếng, lễ bái nhiều chùa được nhiều phước đức. Có lúc các chị không thích đi hành hương nữa, tôi hỏi tại sao thì các chị cho biết, không thích đi từ hồi nghe thầy Thanh Từ giảng. Thầy nói các bà đi chùa cúng có mấy trái chuối, mấy trái cam mà cầu xin Phật cho nhiều thứ , xin cho mình, cho con mình rồi cho cháu mình nữa. Phật dạy tu thì không tu mà chỉ muốn cầu xin, nếu ai xin cũng được Phật cho như ý thì trên đời này đâu có ai khổ, ai nghèo? Các chị nghe thầy Thanh Từ nói Phật không phải là thần linh, có bùa phép ban cho Phật tử điều này điều nọ, các chị chán quá ở nhà luôn.

Không riêng gì người bình dân ít học mà đôi khi ngay cả người trí thức phụ trách việc giảng dạy Phật pháp cũng có người không hiểu đạo. Một cư sĩ kia có bằng cấp cao nên rất được quý trọng, trọng dụng trong hàng lãnh đạo Phật giáo. Ông được mời giảng dạy đạo pháp và hướng dẫn Phật tử trong các lớp tu học. Một bữa kia một Phật tử có ý kiến, theo tôi bài giảng của ông không đúng ở điểm này , điểm nọ. Ông cư sĩ có vẻ khó chịu và từ đó giữ trong lòng “ác cảm” lâu dài với Phật tử này.

Sự thật là vậy, là ít người chịu khó suy ngẫm để thấu hiểu được rằng Phật bỏ cung vàng điện ngọc, bỏ cả vợ con chỉ vì thấy “Đời Là Bể Khổ”. Phật vào rừng sâu, sống khổ hạnh chỉ để tìm cách Cứu Khổ. Và hầu hết kinh sách Phật được lưu truyền lại ngày nay là để dẫn dắt chúng ta con đường Thoát Khổ.

Đạo Phật không phải là một Tôn Giáo huyền bí, không đặt niềm tin ở Thượng Đế và Phật không tự cho mình là con của Ngọc Hoàng, là Đấng Tạo Hóa toàn năng tạo ra vạn vật, có khả năng ban phước hay giáng họa cho ai. Luật Nhân Quả không phải do Ngài đặt ra, và Niết Bàn cũng không phải là nơi do Ngài tạo nên, do Ngài kiểm soát cho phép ai ra, ai vào.

Đạo Phật Là Một Con Đường Giải Thoát, Giác Ngộ. Phật là người đã tìm ra chân lý, tìm ra Con Đường đi đến sự giải thoát, an vui, tự tại (chấm dứt khổ đau). Con đường đó Phật giảng giải, chỉ vẽ dựa theo kinh nghiệm “Ngộ” mà Ngài đã chứng nghiệm được sau sáu năm khổ hạnh tu tập và 49 ngày nhập định dưới cây bồ đề. Sau thời gian tu tập này Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn, đạt đến Niết Bàn và Phật đã bình đẳng tuyên bố “Ta là Phật đã thàønh, các người là Phật sẽ thành nếu các người tu theo con đường (đạo) ta chỉ dạy “.

Theo Phật con người khổ là vì Tham Sân Si, Chấp và Ngã…

Tham là muốn chiếm đoạt vật gì làm của riêng của mình, có một muốn hai, có hai muốn bốn. Lòng tham thúc đẩy con người hành động, tạo nghiệp ác, gây khổ cho mình và cho người khác.

Sân là thù hận, oán ghét. Nó cũng bao gồm trạng thái thụ động như hờn mát, bất mãn, ác cảm, buồn phiền ngấm ngầm trong lòng.

Si là u mê, tăm tối, chạy theo vạn vật hão huyền, là vô minh không nhận ra chân tướng, bản chất chân thật của vạn vật.

Chấp là vướng mắc vào những cảm thọ, như khen chê, được mất, hơn thua…

Ngã là mình, những gì thuộc về mình, cái Tôi vị kỷ, kiêu mạn…

Thôi thì có trăm ngàn nguyên nhân làm mình khổ. Muốn chấm dứt khổ đau, được an lạc, tự tại, kinh Phật dạy muôn ngàn pháp môn. Để cho bớt rườm rà khó hiểu, tôi đơn giản hóa vấn đề, muốn tu theo Phật cho thân tâm được , một là chuyển hóa Tham Sân Si, hai là gạt bỏ Chấp và Ngã.

Con đường tu của tôi ngắn và gọn như vậy. Khi có một điều bất đắc ý xảy ra làm tôi buồn phiền đau khổ, bình tĩnh suy xét tôi thấy đúng như lời Phật dạy, căn nguyên khổ đó là do tham, sân, si, chấp và ngã đã huân tập, tiềm ẩn trong tôi từ kiếp nào mà ra. Cái chủng tử hung dữ, nóng nảy do cha mẹ di truyền lại đã sống khỏe mạnh trong tôi bấy lâu nay. Nay biết tu tập, với thời gian tôi sẽ cố gắng “bứng gốc” các chủng tử xấu đi, hỷ xả rồi tôi sẽ tưới tẩm những “chủng tử tốt” (từ bi, hỷ xả, bao dung) bằng những trận mưa Pháp, những chủng tử tốt này sẽ nảy mầm vươn lên.

Làm việc gì muốn có kết quả nhanh chóng mình cũng phải có phương pháp, phân tích và có kế hoạch đàng hoàng. Sau khi phân tích thấy được nguyên nhân nguồn cội khổ đau là tham sân si, chấp và ngã, bây giờ làm sao diệt tham sân si, chấp và ngã?

Muốn diệt Tam Độc tham sân si, thì phải giữ Thân Khẩu ý thanh tịnh, trong sạch. Trên lý thuyết thì không khó, nhưng trên thực tế tiêu diệt ba con rắn độc này là cả một cuộc chiến gay go với nội tâm, mà chính Phật cũng phải nhìn nhận “thắng một vạn quân dễ hơn chiến thắng chính mình”.

Bản tính của người phàm phu là ăn miếng trả miếng, nhất định không thua ai. Người “biết tu” gặp nghịch cảnh phải nhịn nhục, nếu cứ chơi “xả láng” tới đâu hay tới đó, là tự biết mình đã “thua” trên mặt trận “tu tập”. Nếu nhịn nhục là thân không làm điều ác, miệng không nói lời ác thì tôi cố gắng làm được, nhưng giữ tâm ý thanh tịnh, không giận hờn, buồn phiền, bất mãn, điều này tôi thấy khó quá. Làm sao vui vẻ chấp nhận sự thiệt thòi về phần mình, làm sao chuyển hóa lấy khó khăn làm thú vị, lấy nghịch cảnh làm thắng duyên để đo lường sự tu tập của mình?

Kinh sách dạy, muốn tu chúng ta phải Học Kinh, và ứng dụng bát chính đạo. Có chính kiến (nhìn thấy đúng), có tư duy ( suy xét đúng), có tinh tấn (cố gắng trui luyện), nước chảy đá sẽ mòn, rồi có ngày tâm ta sẽ không còn vướng mắc, chướng ngại, phiền não.

Trong kinh , Phật dạy…vạn vật Vô Thường. Với thời gian vận vật đổi thay, không thường hằng bất biến, cho nên trong đời sống, chúng ta “nay lên voi, mai xuống chó”, nay được yêu chiều, mai bị ruồng rẫy nên coi là sự thường. Đã thấu đáo lý Vô Thường thì dù cuộc đời có lúc lên hương như “diều gặp gió” chúng ta cũng không nên hả hê vui mừng đắc thắng, vì gió không bền lâu, lúc gió ngừng diều sẽ đâm đầu xuống đất, càng cao danh vọng, càng dày gian nan. Khi thành công cũng như lúc thất bại chúng ta phải cố giữ tâm thăng bằng như người làm xiệc đi trên sợi dây nhỏ. Dù đời nhiều cay đắng chúng ta cũng cố tự an ủi, đời người như một dòng sông, “sông có khúc, đời người có lúc”, không nên nao núng thất vọng trước cảnh vật đổi sao dời.

Vạn vật đều Vô Ngã. Khi chấp nhận vạn vật vô ngã, không có tự tính (sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc) thì ý thức ích kỷ, vị kỷ, chấp ngã kiêu mạn, ý nin6ệm về “Cái Tôi” vô cùng quan trọng sẽ tan biến.

Phật cũng dạy lý Duyên Sinh. Vạn vật do duyên họp mà thành. Đủ duyên thì vạn vật tồn tại, mất duyên thì vạn vật tiêu tan. Do nhân duyên tác hợp nên vạn vật chỉ là hư ảo (huyễn). Khi thấu được lý nhân duyên thì tâm mình sẽ rộng mở, dễ cảm thông, tha thứ, chấp nhận thế giới muôn sai, nghìn khác. Từ “cảm thông” trong ta sẽ phát khởi lòng từ bi bao la, dễ hỷ xả, tha thứ những lỗi lầm của người khác.
Tôi về thăm Việt Nam, mấy đứa trẻ ăn xin hay đeo theo xin tiền. Được tiền rồi chúng cũng không đi chỗ khác, cứ lẩn quẩn quanh tôi. Chờ lúc tôi sơ hở là tụi nó “chôm” mấy thứ lặt vặt như máy ảnh, kính đeo mắt, cây dù xếp…từ đó tôi có ác cảm với đám trẻ ăn xin này, thấy tụi nó kéo tới là tôi lo canh giữ cẩn thận, không còn tội nghiệp , thương xót như trước . Đấy là phản ứng tự nhiên của người mất của. Nhưng trầm tĩnh suy nghĩ kỹ tôi mới thấy tội nghiệp những đứa trẻ thơ vô tội này. Chẳng may chúng nó sinh ra trong một gia đình nghèo ở Việt Nam, thất học, đói rách, phải ăn xin, ăn trộm để kiếm sống. Nếu chúng nó được may mắn sinh ra trong một gia đình giàu có ở Mỹ, được cha mẹ gởi tới các nhà giữ trẻ có nhiều trò giải trí, dùng máy điện tử chơi game hứng thú thì chúng nó đâu thèm ăn cắp máy chụp hình, kính đeo mắt, và cây dù xếp để làm gì?

Cho nên trong vấn đề tu tập, Thiền Định là một phương cách đưa con người đến giải thoát. Những giây phút yên lặng, suy nghĩ sâu sắc sẽ cho ta Thấy Được Cái Bản Chất Chân Thật Của Mọi Việc.

Nhận thức được bản thể chân thật đó, con người mới có thể phát khởi đại trí, đại bi, trải rộng tình thương vô bờ tới muôn người và muôn loài. Trong đời sống hằng ngày chúng ta bận rộn làm ăn sinh sống, không có nhiều thì giờ để ngồi thiền như những người xuất gia, nên Sư cô Thanh Lương khuyên chúng ta cố gắng Dừng Lại, cố giữ phản ứng chậm lại. Chỉ cần chậm lại một chút để có thì giờ suy nghĩ kỹ chúng ta sẽ tránh được nhiều lỗi lầm đáng tiếc, gây phiền phức cho mình và những người chung quanh, nhờ đó cuộc sống của mình được tươi đẹp , thoải mái dễ chịu hơn.

Đối với đàn bà chuyện thường xảy ra là bà này nói xấu bà kia. Phản ứng tự nhiên khi bị người khác đặt điều nói xấu là mình nổi giận. Người “biết tu” sẽ không trả thù nói xấu lại và người tu giỏi sẽ không giữ trong lòng ác cảm, phiền muộn ai .

TU ĐỂ LÀM GÌ mà xem ra người tu có vẻ thiệt thòi, chịu đựng nhiều quá vậy?

Mục đích tối thượng của người tu theo Phật là đạt đến Niết Bàn.

Niết Bàn không phải là một nơi tốt đẹp như Thiên đàng của các tôn giáo khác, khi nào chết con người mới có thể tới Thiên đàng được. Niết Bàn trong đạo Phật không chiếm không gian, không là nơi chốn nào trong vũ trụ, mà là một đạo quả, một trạng thái bình yên tối thượng.

Ở ngay trong kiếp sống này nếu chúng ta không bị tham sân si, chấp và ngã điều khiển, tâm ta sẽ có được thanh tịnh, an lạc, đạt đến Niết Bàn.

Những danh từ Duyên Sinh, Vô Thường, Vô Ngã hình như Phật tử nào cũng hiểu vì nó là nền tảng giải thoát của Đạo Phật. Nhưng hiểu là một chuyện mà có ứng dụng những điều hiểu biết này vô đời sống của mình để có được đời sống an lành yên vui hay không là chuyện khác.

Một bạn đạo của tôi luôn chạy theo Sư cô Thanh Lương, cô giảng ở đâu là có mặt chị ở đó. Chị đọc kinh nhiều đến nỗi thuộc làu cả “Chú Đại Bi”. Chị đang vận động với bạn bè mua cho Sư cô Thanh Lương một căn nhà làm chùa. Chị mê nghe Sư cô giảng lắm. Tôi hỏi thăm, chị A còn trong hội của chị không? Hỏi câu này là bắt trúng tần số. Tôi chỉ hỏi một câu ngắn như vậy mà chị trả lời tôi tới nửa đêm, tuông ra bao nỗi hằn học, oán hận, căm thù. Tôi an ủi, thôi chị đi chùa nhiều, nên “hỷ xả”. Chị ấy trả lời: “Cái hạng người đó không đáng cho tôi hỷ xả!”.

Một bà khác đi chùa, công quả chuyên cần từ ngày qua Mỹ đến nay là mấy chục năm, nên được giử chức Phó Hội trưởng trong Ban Chấp hành của một chùa trong vùng. Bà mẹ chồng của chị đang hấp hối ở VN, tha thiết mong mỏi tất cả con cháu , dâu rể điện thoạị về một lần chót trước khi nhắm mắt ra đi. Mặc cho em chồng khóc lóc năn nỉ, chị này nhật định không gọi về, nhất định trả thù bà mẹ chồng cho đến giờ phút chót cuộc đời bà.

Đi chùa mà giữ tâm địa ác như vầy thì đi để làm gì?

Tu không cần đi chùa nhiều, đọc kinh nhiều, ăn chay giỏi, làm công quả chuyên cần, xây chùa cất miếu…nếu làm được những điều này thì tốt. Nhưng vấn đề chính yếu của tu là thấu hiểu và “quyết tâm” ứng dụng những điều Phật dạy vô đời sống hằng ngày của mình.

Nên Từ Bi Hỷ Xả. Chỉ một chữ “xả” thôi , nếu thực hiện được là chúng ta cũng đến gần Niết Bàn rồi. Đi chùa, tham gia Phật sự là điều tốt, nhưng đó là bước đầu, nếu chúng ta bước xuống thuyền rồi đứng đó, không tự chèo thuyền đi , không ứng dụng những điều học hỏi ở kinh sách, ở chùa vô đời sống hằng ngày thì mãi mãi không bao giờ có thể đến được bến bờ giải thoát an lạc bên kia.

Thầy Thanh Từ giảng, căn phòng dù tăm tối đến đâu, bật đèn lên căn phòng cũng sáng. Chúng ta đứng ở cửa nhìn ra ngoài sẽ thấy đen tối, xoay đầu vô thì thấy sáng. Giữa tối và sáng chẳng cách nhau bao xa. Chỉ cần biết xoay đầu. Nhìn ra ngoài là bến mê, xoay đầu lại là bờ giác. Mê và giác chỉ có một cái xoay đầu. Tu dễ như vậy. Tu là hồi đầu, là xoay đầu lại. Từ bao lâu chúng ta mê nên đi trong đau khổ tử sanh, khi tỉnh chúng ta trở về sẽ hết khổ đau. Nếu chúng ta thả trôi theo giòng tăm tối thì tối mãi, biết xoay ngược lại tìm về ánh sáng thì sẽ được sáng. Một đứa con đi hoang, càng đi xa nhà càng khổ, khi biết lỗi lầm quay về với mẹ cha thì được sống trong gia đình hạnh phúc.

Hiểu như vậy thì tu không khó khăn gì cả, không cần ép xác khổ hạnh, tu luyện lâu dài hay học cao hiểu rộng, cũng không cần xuất gia. Phật tức tâm, tâm tức Phật, tu tại gia cũng được. Chỉ cần cố chuyển hóa tham sân si , chấp và ngã.

Vạn vật đồng nhất ở bản thể, khi chúng ta dẹp được cái Tôi vị kỷ, ranh giới giữa ta và người sẽ tan biến. Từ đó lòng Từ Bi Hỷ Xả sẽ bừng nở dâng tràn, đưa ta đến bến bờ giải thoát an lạc tự tại.

Tu là sửa đổi cho được tốt hơn, là dừng lại, là chuyển hóa cái tri thức sai lầm về thực tại. Vì tri thức sai lầm, chúng ta phát sinh tham, sân, si rồi hành động tạo nghiệp. Có chính kiến chúng ta sẽ thay đổi thái độ với vạn vật, nhờ đó thế giới trở nên an lành, vui tươi , hạnh phúc hơn.

Khi tâm ta không còn bị tham sân si điều khiển, khi tâm ta không còn vướng mắc với những cảm thọ chấp, ngã, chúng ta sẽ đạt đến . Đó là một trạng thái yên bình tối thượng, thanh tịnh, tự tại, giải thoát ở kiếp này, nhờ đó Nghiệp Lực chấm dứt, không còn sức lôi dẫn chúng ta luân hồi trong lục đạo ở kiếp sau.

Đây là mục tiêu tối thượng của việc Tu Hành theo Phật.

Nếu làm mãi vẫn thất bại, gắng mãi cũng không đạt, hãy xem lại có phải do nguyên nhân này không?

Xưa thật là xưa, có nàng công chúa xinh đẹp rất được quốc vương yêu thương. Quốc vương luôn đáp ứng đầy đủ những yêu cầu, mong ước của nàng, chiều chuộng trăm bề. Công chúa giống như đóa hoa giấu kín trong phòng, được bảo hộ, chăm sóc hết mực; từ trước đến nay chưa có thứ gì nàng muốn mà không được cả.

Một hôm, đột nhiên trời mưa như trút nước, những chỗ lồi lõm trên mặt đất chứa đầy nước, hình thành những vũng nước lớn. Những hạt mưa rơi vào các vũng nước đó, sinh ra những bong bóng nước nho nhỏ, tròn trịa, lóng lánh, xinh đẹp. Công chúa vừa xem thấy những bong bóng nước nhỏ xinh xinh, liền bị hấp dẫn, nghĩ bụng: “Bong bóng nước này có thể kết thành vòng, đội lên đầu, đẹp biết chừng nào!

Công chúa liền đến làm nũng với đức vua, đòi ông phải sai người đi lấy bong bóng nước đó về làm thành đồ trang sức cho mình.

Quốc vương nghe công chúa nói liền bật cười khanh khách:

– Ha ha! Con gái bảo bối của trẫm! Bong bóng nước mong manh như vậy, đến cầm lên còn không được, làm sao có thể dùng làm đồ trang sức được chứ?

Nhưng cô công chúa vùng vằng nói một cách giận dỗi:

– Con mặc kệ! Nếu phụ vương không làm được cho con, con sẽ chết ngay trước mặt cho người xem!

Quốc vương dở khóc dở cười, khuyên răn thế nào cũng không được, chỉ còn cách tập hợp tất cả thợ điêu khắc trong nước lại, ra lệnh cho họ:

– Các ngươi mau đem bong bóng nước đến làm thành đồ trang sức cho công chúa đội lên đầu. Nếu làm không được sẽ bị xử trảm!

Những người thợ nghe quốc vương ra lệnh như vậy, sợ đến nỗi xanh cả mặt, không biết phải làm thế nào. Lúc đó, có một bác thợ già bước ra, nhận lời thực hiện công việc đó. Quốc vương vui mừng vô hạn liền báo ngay với công chúa tin tức tốt lành này.

– Con gái yêu của ta! Hôm nay có một bác thợ già hứa sẽ giúp con làm đồ trang sức bằng bong bóng nước, con có muốn đi xem thử không?

Công chúa nghe xong vui mừng nhảy cẫng lên:

– Thật không phụ vương? Như vậy tốt quá rồi!

Và nàng nhất định phải đến xem bác thợ già làm việc. Ngày lấy bong bóng nước, quốc vương và công chúa đứng một bên nín thở chăm chú nhìn. Lúc đó, bác thợ già thưa:

– Khải bẩm bệ hạ! Trong số rất nhiều bong bóng nước xinh đẹp này, thần không thể biết được công chúa thích những cái nào. Vậy xin phiền công chúa đích thân lựa chọn. Sau khi chọn xong, thần sẽ mài giũa, chỉnh sửa và làm thành đồ trang sức theo đúng ý công chúa.

Công chúa nghe xong không chút do dự, liền đến bên chậu nước chọn lựa những bong bóng nước mình yêu thích. Nhưng khi tay nàng vừa chạm vào thì bong bóng liền vỡ tan. Công chúa không cam lòng, liền thử lại nhiều lần nữa, nhưng dù cẩn thận nhẹ nhàng thế nào cũng đều không thể vớt bong bóng nước lên được.

Đã hơn nửa ngày, công chúa cảm thấy mệt mỏi quá liền thưa với quốc vương một cách uể oải:

– Thưa phụ vương! Cuối cùng con cũng đã hiểu được. Bong bóng nước không thể nào vớt ra khỏi nước. Nó là vật hư ảo không thật, chỉ có người ngu muội như con mới nghĩ đến việc lấy nó, lãng phí công sức cho nó!

Kỳ thật, không chỉ có bong bóng nước mà trên thế gian này mọi thứ đều hư ảo không thật, nhưng vẫn có không ít người bỏ hết tâm lực, công sức của đời mình để không ngừng truy đuổi, nắm bắt những thứ không thật đó. Điều này khi xét dưới con mắt trí tuệ của chư Phật và Bồ Tát thật đáng thương xót biết bao!

Hóa ra vận số là do phước báu của mình tạo ra, đây là câu chuyện từ thời Phật tại thế

Tại Ấn Độ, vào thời cổ đại có vị hoàng hậu tên Mạt-lợi, là hoàng hậu của quốc vương Ba-tư-nặc. Quốc vương thường nói với hoàng hậu:

– Ái khanh! Ngày nay nàng có được vận số tốt đẹp, được làm hoàng hậu, tất cả đều nhờ có trẫm! Cho nên nàng phải biết ơn trẫm.

Hoàng hậu Mạt-lợi tuy không nói gì, nhưng thật lòng bà không nghĩ như vậy. Một hôm, quốc vương hỏi bà:

– Trên thế gian này, người nàng yêu thương nhất là ai?

Khi hỏi như vậy, trong lòng vua thầm nghĩ: “Vợ yêu của mình nhất định sẽ nói mình là người nàng yêu thương nhất.” Nhưng thật bất ngờ khi hoàng hậu đáp:

– Tâu bệ hạ! Người thiếp yêu thương nhất chính là bản thân mình.

Quốc vương vừa nghe đã cảm thấy khó chịu vô cùng, ông nói một cách hằn học:

– Nàng có được cuộc sống tốt như vậy, vật dụng tốt như vậy, tất cả đều nhờ vào sự cung cấp của trẫm.

Nhưng hoàng hậu nói ngược lại:

– Không phải như vậy! Thiếp từng nghe Đức Phật dạy rằng: Đây là phước báo đời trước do chính thiếp đã tạo ra, chứ không phải nhờ bệ hạ ban cho.

Vua Ba-tư-nặc tức giận vô cùng. Ông muốn tìm cách để cho hoàng hậu biết rằng tất cả mọi thứ bà có được đều do quốc vương ban cho. Ông liền cố ý tặng bà một chiếc nhẫn kim cương vừa lớn vừa sáng; sau đó nhân lúc hoàng hậu ngủ say, ông sai người lén lấy vứt xuống sông. Trong lòng ông hậm hực nghĩ thầm: “Trẫm sẽ chứng minh rằng vận số tốt đẹp của nàng đều là của trẫm ban cho.

Sáng sớm hôm sau, hoàng hậu đi tìm quốc vương. Ông vờ như không biết gì, cố ý hỏi:

– Ủa! Chiếc nhẫn kim cương trẫm tặng cho nàng đâu rồi, sao không thấy đeo?

Hoàng hậu vô tình đáp:

– Tối qua lúc thiếp đi ngủ không biết đã để nó đâu rồi, tìm mãi không thấy.

Vua cười nói:

Nàng xem, nếu như đây là phước báo của nàng, thế thì hiện tại chẳng phải nàng không có đó sao? Rõ ràng trẫm có thể ban cho nàng kia mà?

Nhưng hoàng hậu thản nhiên đáp:

Tất cả cũng là tùy duyên thôi! Những gì thuộc về thiếp thì sẽ là của thiếp, những gì không thuộc về thiếp thì tìm cầu cũng vô ích thôi.

Biết là hoàng hậu vẫn hy vọng tìm lại được chiếc nhẫn, vua Ba-tư-nặc cười thầm trong bụng.

Qua vài ngày sau, hoàng hậu Mạt-lợi chiêu đãi khách nước ngoài, do đó sai thị vệ ra chợ mua mấy con cá lớn về làm thức ăn. Lúc người hầu làm cá, phát hiện trong bụng của một con cá lớn có chiếc nhẫn kim cương, liền mang đến dâng lên hoàng hậu.

Hoàng hậu xem xong vô cùng vui mừng:

Đây chẳng phải là chiếc nhẫn của ta hay sao?

Thế là hoàng hậu liền đeo nhẫn vào tay, đi tìm quốc vương Ba-tư-nặc:

Thưa bệ hạ! Chàng xem, chiếc nhẫn kim cương đã trở về rồi!

Vua Ba-tư-nặc rất ngạc nhiên và khó chịu, vì chiếc nhẫn kim cương đó do chính tay ông đã ném xuống sông! Tuy vậy, cuối cùng ông cũng phải tin rằng: “Không phải do ta ban cho nàng ấy, mà chính là phước báo của riêng nàng đã giúp nàng được hưởng.”

Quốc vương Ba-tư-nặc đối với con gái cũng giống như vậy, ông thường nói với con:

Hiện tại con được làm công chúa, có cuộc sống sung túc giàu sang, đều là do phụ vương ban cho cả, cho nên con phải cảm ơn phụ vương.

Nhưng công chúa nghe xong liền lễ phép thưa:

Kính thưa phụ vương! Đức Phật không nói như vậy, vận số tốt đẹp này đều nhờ vào phước báo bố thí của chính con đã từng tạo ra trong đời trước. Do đó hôm nay con mới được làm công chúa!

Vua Ba-tư-nặc nghe xong cũng hết sức bực tức, liền nói với con gái:

Công chúa! Tuổi con không còn nhỏ nữa, phải đi lấy chồng rồi. Trẫm sẽ tìm người cho con!

Thế là, quốc vương cố ý tìm một người thanh niên hết sức bần cùng và gả công chúa cho anh ta. Quốc vương Ba-tư-nặc nghĩ bụng: “Sau khi xuất giá, đợi lúc ngươi bần cùng, chán nản, ta sẽ tìm đến cứu giúp, lúc ấy tự nhiên sẽ biết được vận số tất cả đều do ta ban cho, không còn dám nói là phước báo của cá nhân mình.

Công chúa biết rằng người tu tập giáo pháp giải thoát của đức Phật thì phải tùy duyên nghiệp, nên vui vẻ kết hôn với người thanh niên nghèo khó kia mà không hề oán thán.

Thật ra, anh thanh niên nghèo khó này trước kia vốn là hoàng tử, và là người thừa kế của một vương quốc nhỏ đã suy sụp. Sau khi kết hôn, anh liền đưa công chúa trở về quê hương mình. Hai người cùng chung sức sửa sang lại ngôi nhà cũ của chàng. Đột nhiên, họ tình cờ tìm thấy bên dưới nền nhà có chôn giấu một cái rương rất lớn, bên trong toàn là châu báu. Họ liền dùng số châu báu đó xây dựng lại cơ nghiệp, kiến tạo một tòa cung điện còn lớn hơn cả cung điện nhà vua Ba-tư-nặc.

Đợi đến khi tất cả mọi việc đã ổn định, công chúa mới trở về thưa với quốc vương:

Thưa phụ vương! Gần đây cuộc sống của chúng con cũng không tệ lắm, mời cha đến nhà chúng con thăm chơi!

Vua Ba-tư-nặc đến thăm nhìn thấy cung điện và cuộc sống hạnh phúc của họ thì vô cùng kinh ngạc. Một lần nữa, ông buộc phải tin vào giáo lý nhân quả do đức Phật chỉ dạy. Ông tự nghĩ: “Thì ra vận số của vợ con mình đều là do chính họ tạo ra, chẳng phải do ta làm chủ!

Cuộc đời mỗi người có thể trở nên thanh thản, an nhiên nếu bạn học được 2 chữ này!

Cuộc đời không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, thế nên, học được hai chữ này, muộn phiền, lo lắng có thể sẽ giảm đi rất nhiều.

Duyên phận, chính là gặp được người nên gặp. Phúc phận, đó là có thể cùng người hữu duyên trải qua những vui buồn trong cuộc sống.

Thứ gọi là “duyên mỏng”, có lẽ chỉ may mắn quen biết, dù cho đi sát vai nhưng cuối cùng vẫn bước qua nhau như người xa lạ. Thứ gọi là “duyên sâu”, dù hẹn gặp trễ vẫn chung bước, chẳng thể xa rời.

Có thể gặp mà không thể cầu, ấy gọi là “mối duyên thượng đẳng”. Có cầu, có gặp, ấy được gọi là “mối duyên trung đẳng”. Không cầu vẫn gặp, ấy được gọi là “mối duyên hạ đẳng”.

Nhưng bất luận là mối duyên phận nào, chỉ cần hữu duyên, ta đều cần dùng tất thảy thiện tâm và quý trọng để đối đãi.

Cảnh giới tối cao nhất của thiện tâm là sống giống như nước, tạo phúc cho vạn vật mà không màng danh lợi.

Nước từ chỗ cao tìm về nơi thấy, đó là đức tính khiêm tốn. Nước chảy băng băng một nẻo ra biển, đó là sự kiên trì. Nước lúc cứng, lúc lỏng, lúc cương, lúc nhu, đó là một loại năng lực.

Biển lớn dung hòa trăm sông, đó là một loại đức độ. Nước chảy đá mòn, đó là một thứ nghị lực. Nước tẩy rửa bùn đất, đó là một loại dâng hiến.

Đời người chẳng khác nào sông đổ ra bể, mà lòng người cũng nên giống uyển chuyển, mệnh mang tựa dòng nước: Thích giúp đỡ mọi người mà không tính tới hồi báo, đạm bạc, minh chí, khiêm tốn, có nhu, có cương…

Học được cái thiện của nước, tấm lòng sẽ hóa thành biển lớn. Khi tâm đã thiện, duyên tự khắc tìm đến.

Ở đời nên học hai chữ “tùy duyên”

Trên thế giới này, chẳng có con đường nào trải đầy hoa hồng, cũng không có cuộc đời ai mãi thuận buồm xuôi gió.

Mọi chuyện không thể luôn luôn theo ý của chúng ta, nên nhân sinh mới có phiền não và ưu sầu. Khi những chuyện không muốn xảy đến, bạn sẽ tìm cách đối mặt với chúng ra sao? Hãy bình thản và lựa chọn hai chữ: “Tùy duyên”.

Có câu: “Tùy duyên tự thích, phiền não sẽ đi”. Kỳ thực, tùy duyên chính là một kiểu mạnh dạn, là cách chọn lựa của người mưu trí, đôi khi cũng là cái cớ biện bạch của kẻ ngu ngơ. Vậy “tùy duyên” là như thế nào?

“Tùy duyên” không phải buông xuôi phó mặc, mà học cách đối diện mà không oán hận, không nóng nảy, không thái quá, không ép buộc.

“Tùy duyên” không phải là tùy tiện, mà là học cách nắm chặt thứ hữu duyên, buông bỏ thứ vô duyên, không bi quan, không khiên cưỡng, không hoảng loạn.

Duyên ở thì giữ, duyên đi thì tùy. Có vậy cuộc sống mới có thể an nhiên, lạc quan, tĩnh tại.

Đôi khi, đối mặt với cuộc sống, ta phải thỏa hiệp, phải nhận nhịn, phải nhân nhượng. Bởi nhân sinh thất thường nào khác chi thời tiết, có lúc nắng tràn rực rỡ, có lúc lại như mưa rơi, thác đổ.

Cương quyết, mạnh mẽ có chỗ tốt, nhưng nhẫn nhịn, thỏa hiệp lại mang những ưu điểm riêng. Trước khi đưa ra bất kỳ một quyết định nào, chúng ta đều cần nhận định tình hình chính xác để hành sự thỏa đáng.

Thỏa hiệp không nhất thiết là tất cả mọi việc đều phải nhân nhượng. Mà nhân nhượng cũng không đồng nghĩa chấp nhận vô năng trong mọi chuyện.

Dĩ hòa vi quý, tùy thế lựa thời cũng là một dạng trí khôn.

Kỳ thực, cuộc sống vui vẻ hay khổ đau đều do nội tâm của chúng ta quyết định.

Dùng tấm lòng tốt đẹp để thưởng thức vạn vật, lấy chân tình đổi lấy chân tình, mang trách nhiệm để gánh vác công việc, dùng khiêm tốn để thừa nhận sai lầm.

Lấy lòng kiên nghị để theo đuổi lý tưởng. Dùng lòng bao dung để tha thứ lỗi lầm. Đưa lòng biết ơn để đối đãi người có công. Mang tấm lòng chân thực để chấp nhận hiện thực. Và lấy lòng dứt khoát để buông bỏ những thứ không thuộc về mình.

Tất cả những việc ấy, đều cần tới hai chữ “tùy duyên”. Khắc cốt ghi tâm hai chữ này, dù nhân sinh có khổ ải tới nhường nào, bạn nhất định có thể tận hưởng cuộc sống một cách an lạc, tự tại.

(shvn)

Càng yếu đuối càng dễ dựa dẫm và càng dựa dẫm lại càng yếu đuối

Đôi khi trước những tượng đài quá lớn, nhất là khi năng lượng của tượng đài ấy đang được cộng hưởng bởi năng lượng ngưỡng mộ to tát của đại chúng, ta bỗng thấy mình quá đỗi tầm thường rồi sẵn sàng nấp dưới bóng họ.

Sự yếu đuối cũng dễ dẫn đến thái độ dựa dẫm rồi đánh mất chủ quyền sống.

Càng yếu đuối càng dễ dựa dẫm và càng dựa dẫm lại càng yếu đuối.

Thiền sư Quảng Nghiêm, thế kỷ 12 của Việt Nam, đã từng khuyên: “Làm trai chí lớn tung trời thắm/ Sao dẫm chân theo dấu Phật thành” (Nam nhi tự hữu xung thiên chí/ Hưu hướng Như Lai hành xứ hành).

Bắt chước rập khuôn theo kẻ khác, dù đó là một đức Phật, cũng chỉ đem lại xấu hổ và mệt mỏi chứ chẳng lợi ích gì.

Bởi chuyển hóa tâm hồn là sự trải nghiệm của mỗi người chứ không phải do làm giống y như thần tượng tâm linh của mình mà được. Mà tại sao ta phải làm giống y người khác, khi ta và họ có cấu trúc cơ thể và tâm thức không hề giống nhau?

Ta chỉ có thể học hỏi phần nào kinh nghiệm của người đi trước, còn lại ta phải tự đương đầu và khám phá bằng thực lực của mình.

Thói quen hưởng thụ dễ khiến ta đánh mất khí phách hiên ngang có sẵn của mình.

Nhà thơ Chế Lan Viên cũng đã từng than rằng: “Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp/ Giấc mơ con đè nát cuộc đời con/ Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp/ Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn“.

Giấc mơ của chúng ta là gì? Có phải là sự nghiệp hiển vinh với đời, chinh phục được người trong mộng, sở hữu cơ ngơi sang trọng thuộc bậc nhất, được bạn bè và mọi người xung quanh nể trọng?

Vậy còn lý tưởng đâu? Sống mà không có ý chí muốn vươn tới mục đích cao cả thì đời sống ấy sẽ bị đóng khung trong không gian nhỏ hẹp và lạc lõng vô cùng. Thật ra, cũng không có gì để gọi là mục đích cao cả.

Chia sẻ năng lực của mình để phụng sự cho cộng đồng hay cuộc sống mà mình đang nương tựa cũng chỉ là trách nhiệm căn bản của mỗi công dân mà thôi.

Nếu ai cũng chỉ biết lo nghĩ đến hạnh phúc của riêng mình thì ai sẽ lo cho những cái chung? Ta không muốn kết tội nền khoa học hiện đại, vì bản thân nó đã đem tới biết bao tiện nghi cho con người.

Nhưng sự thật là chính nó đã làm cho ma lực tham vọng của con người lớn mạnh hơn bao giờ hết.

Nó đã đầu độc mục đích sống và nhấn chìm lý tưởng cao đẹp của hàng lớp người.

Đúng là ta đã đi qua thời chinh chiến, nhưng sự điêu linh trong lòng người có bao giờ chấm dứt đâu.

Con người bây giờ vẫn miệt mài tranh đấu, nhưng không phải với tư cách của một chiến sĩ quên mình vì dân tộc.

Ta nói ta yêu quê hương, tự hào vẻ giống nòi, nhưng có bao giờ tự hỏi ta đã làm gì cho quê hương cho giống nòi mà không có quyền lợi của mình trong đó không? Đừng xem câu hỏi ấy là to tát.

Đừng nổi giận vì bị chạm vào sự ích kỷ. Hãy can đảm nhìn vào sự thật .

Quê hương và giống nòi vẫn còn vô vàn khó khăn, ta không gánh vác thì ai sẽ gánh vác bây giờ?

Nếu ta vẫn tiếp tục ngoảnh mặt quay lưng với lý tưởng để bảo vệ “giấc mơ cơn” của mình, thì đừng hỏi tại sao cuộc đời mình quá nhỏ nhoi để rồi ta dễ dàng ném nó vào những chuyến hôn mê bất tận, đành lòng làm đau khổ những người thân yêu hay góp phần tàn phá chính quê cha đất tổ của mình.

Phật dạy cho người ăn nói vụng về cách phát ngôn lời hay ý tốt, đẹp lòng mọi người, chân thật thẩm thấu

Nếu thấy cách nói năng của ta còn quá vụng về, mỗi lần nói ra chỉ gây thêm sự hiểu lầm hay tổn thương kẻ khác, thì ta hãy nên thực tập im lặng một thời gian để nhìn lại mình.

Ta cũng nên báo cho những người thân sống bên cạnh được biết, để họ khỏi thắc mắc và bảo vệ không gian thật yên tĩnh trong suốt thời gian ta không thể dùng lời nói để giao tiếp. Nếu cần, ta cũng nên dán bốn chữ “thực tập im lặng” trên áo để không bị người khác vô tình quấy nhiễu.

Ta cũng nên tắt điện thoại, không chat trên internet và rời xa bất cứ phương tiện nào khiến ta dễ phản ứng nói năng hay suy tư vọng động. Trong trường hợp quá cần thiết, ta chỉ nên viết xuống tờ giấy chứ đừng vội vàng mở lời.

Bởi ta đã quyết tâm thực tập im lặng tuyệt đối trong suốt ba ngày hay một tuần lễ để nhìn lại và sửa đổi cảm xúc ham thích nói năng, những ngôn từ thường sử dụng và cả thái độ ứng xử của ta trước nay.

Trong suốt thời gian thực tập, ta cần phải bớt lại công việc để có nhiều cơ hội đối diện với tâm mình và quan sát chúng sâu sác hơn. Nếu không khéo, vô tình ta lại dùng công việc để giết bớt khoảng thời gian thực tập im lặng thì ta sẽ làm sai lệch mục đích.

Trong khi làm việc gì ta cũng nên cố gắng làm chậm rãi hơn bình thường một chút, để quan sát thái độ của ta đang phản ánh lên công việc ấy. Ta nên tập mỉm cười mỗi khi nhìn thấy được những cảm xúc đi ngang qua, hay những ý niệm phát sinh trong tâm tưởng, kể cả khi chúng thúc giục ta nói năng hay hành động.

Ta cần có một cuốn nhật ký để ghi lại tất cả những chuỗi phản ứng đó. Nhất là khi ta muốn lên tiếng để phản ánh về điều gì, dù đó là những ý nghĩ đen tối xuất hiện từ những ngõ ngách sâu kín. Khi có chút năng lượng quan sát, ta nên nhìn vào thói quen tự mãn hay độc tài của mình.

Vì những phiền não đó thường là nguyên nhân chính khiến ta không thể nói năng dễ thương. Tuy không có ai làm đối tác, nhưng nếu quan sát tinh tế ta cũng sẽ nhận ra những phiền não ấy khi gặp phải những điều bất như ý nho nhỏ do chính ta gây ra. Hãy chấp nhận và thấu hiểu chúng.

Nếu thực tập nghiêm túc và đúng đắn, ta sẽ thấu hiểu về mình rất nhiều trong những ngày im lặng như thế. Ta sẽ không khỏi giật mình nhận ra từ bấy lâu nay ta chỉ chạy theo đối tượng bên ngoài, nên không hề biết trong tâm đã hình thành những nhận thức và thói quen rất đáng sợ.

Ta từng cho rằng mình chưa hề khinh thường ai, nhưng ta không biết tại sao mình lại thiếu kính trọng khi nói chuyện với những kẻ yếu kém hơn mình. Cũng như ta luôn nghĩ mình đâu có căm ghét người ấy, nhưng ta vẫn không hiểu tại sao mình lại không thể sử dụng lời nói nhẹ nhàng với họ như khi trao đổi với bạn bè hay khách hàng.

Nhờ dừng lại và nhìn sâu, ta mới phát hiện ra ta đã từng thấy mình quá quan trọng, tài giỏi và cống hiến nhiều, nên đã tự ban cho mình cái quyền nói năng tùy hứng mà không cần quan tâm đến cảm xúc của kẻ khác. Cũng vì sự ích kỷ nên ta đã không quyết tâm từ bỏ thói quen nói năng cộc càn, thô lỗ, để đem tới năng lượng bình yên và tươi mát cho những người thân sống bên cạnh, dù họ đã khẩn thiết yêu cầu ta không biết bao lần.

Khi bắt đầu nói trở lại, ta nên giữ tốc độ chậm rãi để kịp nghe rõ từng câu chữ và quan sát được thái độ của mình. Thỉnh thoảng, cũng nên dừng lại để nhìn kỹ dòng cảm xúc và tâm ý nếu thấy mình đang nói tăng tốc. Thời gian đầu ta sẽ thấy hơi khó chịu. Vì trước nay ta chỉ quen nói tùy hứng, hoặc nói cho xong để đạt được mục đích, nên hầu như ta chỉ chú ý đến phản ứng của đối phương.

Nhưng kiên nhẫn luyện tập chừng vài tuần, ta sẽ thấy mình có những thay đổi rõ rệt. Ta sẽ cảm nhận giọng nói của mình rõ ràng, tràn đầy và chắc chắn hơn. Ta sẽ thấy tự tin và thoải mái hơn khi trò chuyện với những đối tượng có uy lực lớn. Điều không ngờ là các mối quan hệ của ta sẽ được cải thiện rất nhanh.

Nhất là những người đang sống bên cạnh sẽ rất biết ơn và nể phục tinh thần trách nhiệm của ta.

Điều thú vị hơn nữa là ta bỗng nhận ra rằng, mỗi lời nói khi được đặt trong phạm vi quan sát hợp lý thì nó sẽ tạo nên sức mạnh rất lớn. Nó vừa có thể thu phục những năng lực bạo động, vừa có thể nâng đỡ những tâm hồn yếu đuối.

Cho nên một lời nói đẹp, chân thành, có tính chất xây dựng niềm tin yêu chính là đóa hoa thơm ngát trong khu vườn văn minh của nhân loại. Và chỉ có những ai sống thường trực trong tỉnh thức mới sở hữu được nó.

Dù đã từng yêu nhau thắm thiết, giờ đây lại thù ghét nhau, Phật chỉ ra điều chúng ta đã quên mất

Mọi sự Ta làm phải chăng còn thiếu ân tình

Có những người con thấy mình đã làm tròn bổn phận khi mỗi tháng chu cấp đầy đủ thực phẩm và thuốc men, hoặc mua được căn nhà khang trang cho cha mẹ. Nên khi cha mẹ cần họ thường xuyên lui tới, hay giúp đỡ vài việc vặt vãnh thì họ lại than phiền tại sao họ phải làm quá nhiều như thế.

“Cha mẹ thương con biển hồ lai láng/ Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày”. Hai câu ca dao ấy vẫn là thực trạng đau lòng trong bất cứ thời đại nào, nhất là hiện nay. Khi người ta bị cuốn hút vì danh vọng, họ sẽ dễ dàng coi nhẹ hay gạt bỏ những yếu tố khác mà họ cho là bất lợi.

Nhưng được thương yêu và chăm sóc cha mẹ chẳng phải là một quyền lợi sao? Chẳng phải có biết bao kẻ mồ côi trong thế gian này rất thèm có cha mẹ để được thương yêu và chăm sóc, dù phải đánh đổi bất cứ thứ gì thì họ cũng sẵn sàng chấp nhận cả. Chắc là phải đợi đến khi ta có con, phải hy sinh vất vả trăm bề, nhất là khi con ta đau yếu hay ngỗ nghịch, thì ta mới thấm thìa hết ân tình của cha mẹ dành cho ta. Khi đó mới thấy ý niệm “trả xong nợ nần” cho đấng sinh thành là quá dại dột.

Vì sự ích kỷ hẹp hòi của thân Ta mà quên hết đi ân tình

Trong liên hệ hôn nhân cũng vậy, ta cũng muốn có sự sòng phẳng để ta có cảm giác không bị lợi dụng hay hy sinh một cách vô nghĩa. Tôi làm cái này thì anh phải làm cái kia; tôi trả tiền rồi nên bây giờ tới phiên em; tại sao tôi phải lo nhiều thứ còn anh suốt ngày cứ phè phỡn; em chỉ biết lo cho gia đình của em thì đừng trách anh bỏ bê công việc nhà; anh mà làm khổ tôi thì tôi sẽ làm khổ anh… Vì thế khi hôn nhân đổ vỡ, người ta mau chóng xem nhau như hai kẻ xa lạ, không cần biết tới sự khó khăn hiện tại của nhau.

Họ từng yêu nhau thắm thiết rồi bỗng trở thành thù ghét nhau, không muốn nhìn nhau dù vô tình gặp mặt. Tệ đến nỗi, họ lên mặt báo để bôi nhọ danh dự hay đơm đặt những điều gây bất lợi cho nhau. Điều đau lòng nhất là khi phân chia tài sản, họ luôn đòi hỏi sự rạch ròi, sòng phẳng. Bao năm tình nghĩa vợ chồng phút chốc bỗng tan thành mây khói khi ai nấy đều muốn tranh giành phần lợi, phần phải, phần thắng về mình.

Tất cả những phản ứng trên đều thể hiện sự ích kỷ hẹp hòi, chứ không phải là sự công bằng hợp lý. Tài sản thì có thể phân chia đồng đều, nhưng ân tình làm sao đong đếm được mà phân chia? Tuy chuyện tình đã đi vào đoạn kết, nhưng dù muốn dù không thì tất cả những gì ta đã cho nhau sẽ theo nhau mãi suốt đời. Nếu ta còn nợ quá nhiều ân tình với người này thì chắc chắn ta sẽ phải trả cho người khác. Bởi tất cả đều nằm trong vòng nhân quả chập chùng và hiển nhiên xưa nay của trời đất mà không ai có thể thoát được.

Bài học ân tình từ chiếc lá

Chiếc lá không bao giờ nghĩ rằng nó có thể trả hết nợ ân tình của cây, dù nó đã hết lòng hấp thụ ánh nắng mặt trời để khổ công tinh chế nhựa thô thành nhựa luyện nuôi cây. Vì chiếc lá đã quan sát và thấy được sự thật là nó chưa bao giờ ngừng tiếp nhận tình thương yêu của cây Dù cây có già cỗi, nhưng cây cũng vẫn cố gắng cắm sâu những chiếc rễ xuống lòng đất để hút chất khoáng về nuối chiếc lá.

Giả sử chiếc lá có trả được ân tình của cây thì nó cũng không thể nào trả hết nổi ân tình của mặt trời, gió, nước, khoáng chất, phân hữu cơ, côn trùng và cả vạn vật xung quanh. Tất cả những yếu tố ấy có vẻ như nằm ngoài chiếc lá, nhưng chúng vẫn đang từng giờ từng phút nuôi dưỡng chiếc lá.

Và hiểu rằng Ta cũng không bao giờ trả nổi được ân tình, nên hãy trân trọng tất cả…

Chiếc lá chỉ còn cách sống sao cho trọn kiếp sống, sống cho thật dễ thương và làm tốt trách nhiệm của mình. Ta có khác gì chiếc lá đâu. Ta cũng không bao giờ trả nổi những ân tình mà cuộc đời này đã trao tặng cho ta, bằng trực tiếp hay gián tiếp. Vậy tại sao ta cứ mãi than phiền và đòi hỏi cuộc đời, mà có bao giờ ta tự hỏi cuộc đời cần gì nơi ta?

Gọt lệ của Phật chấn động 3 ngàn đại thiên thế giới, ai cũng phát tâm bồ đề

Có một lần, Đức Phật ngồi dưới gốc cây thuyết Pháp cho vô số người. Trong đó có người đã chứng đắc quả vị Tu Đà Hoàn, có người thì chứng đắc quả vị Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán. Những người như vậy không biết bao nhiêu mà kể.

Lúc này, sắc mặt của Đức Phật không lấy làm vui vẻ, hơn nữa còn vô cùng buồn bã. Đệ tử A Nan hỏi Đức Phật là vì duyên cớ gì.

Đức Phật nói: “Chính là giống như người lái buôn, mang theo vàng bạc châu báu trị giá ra ngoài buôn bán, trên đường gặp phải bọn cướp bị cướp sạch hết, thân thể trần truồng nán lại trên đường. Ngươi nói có đáng buồn hay không?”.

A Nan trả lời: “Vâng, thật đáng buồn”.

Đức Phật nói với A Nan rằng: “Ta từ vô lượng vô số kiếp đến nay, chịu đủ muôn vàn cực khổ tu trì Phật Pháp, mục đích vì muốn độ hết thảy chúng sinh thành Phật. Bây giờ ta đã thành Phật rồi, nhưng lại không khởi được tác dụng thực sự. Lẽ nào ta có thể vui mừng được sao?”.

A Nan hỏi: “Không phải là có rất nhiều người đã chứng đắc Thánh quả hay sao?”.

Đức Phật nói: “Giống như một gia đình, sinh hạ mười mấy cô con gái, nhưng lại không có con trai, chính là không có người chèo chống gia đình. Cũng như vậy, ta tuy có vô số A La Hán, nhưng họ đều không phải con của ta, không thể ngồi dưới gốc cây giác ngộ thành Phật, không thể truyền thừa Phật Pháp tiếp được nữa”.

Nói xong, Đức Phật rơi ba giọt nước mắt, tam thiên đại thiên thế giới vì vậy mà chấn động; vô số Thiên, Long, Thần, người đều phát khởi tâm vô thượng Bồ Đề.

Lúc này, gương mặt Đức Phật lập tức nghiêm trang vui vẻ, phóng ra vô số ánh hào quang, chiếu rọi bốn phương. Đức Phật vui mừng nói rằng: “Giáo Pháp của ta đã có người kế thừa rồi…”.

(Trích từ “Kinh Cựu tạp thí dụ”)

Từ câu chuyện này có thể thấy, bất cứ một thiện căn nào mà không có được tâm Bồ Đề gia trì, thì cho dù là A La Hán, đắc được sự giải thoát từ luân hồi trong tam giới, cũng không có gì thù thắng đặc biệt.

Hiện nay ở nhiều vùng đất khác nhau, có rất nhiều người thường xuyên tham Thiền, bái Phật, đốt hương, niệm Kinh, viết kinh sám hối… nhưng đại đa số trong họ, chỉ là vì lợi ích của bản thân. Thật sự tu thành Phật, vì hết thảy chúng sinh mà hành trì Thiện pháp, có thể nói là cực kỳ hiếm. Như vậy, cho dù họ có làm gì đi nữa đều không có được ý nghĩa to lớn.

Vậy nên, khi một người tu hành, nhất định cần phải nhận thức rõ ràng đối với tầm quan trọng của tâm Bồ Đề. Chính là, tu hành không phải vì quả vị của bản thân mình, mà cao quý hơn, là vì hết thảy chúng sinh trong thế giới của mình.

Con người thích cầu toàn, nhưng chẳng có gì là hoàn mỹ, rồi thất vọng, than trời, kêu đất

Xưa có một người nghèo khổ, kiếm sống bằng nghề gánh nước thuê. Anh có hai cái thùng gánh nước, một cái nguyên vẹn, cái còn lại có một vết nứt nhỏ. Vì vậy, mỗi lần gánh nước về tới nhà chủ chỉ có một thùng còn đầy, thùng kia vì bị chảy nước nên chỉ còn lại nửa.

Cái thùng nguyên vẹn cảm thấy mình hoàn mỹ nên rất kiêu ngạo, còn chiếc thùng nứt thì vô cùng hổ thẹn, trong lòng rất khó chịu.
Mùa xuân đến, vạn vật đều thay đổi, cảnh vật bỗng chốc trở nên tràn đầy sức sống.

Thùng nứt nói với chàng thanh niên: “Tôi rất xấu hổ về bản thân mình, tôi muốn rời xa anh”.

Người gánh nước hỏi: “Tại sao anh lại cảm thấy xấu hổ?”

Thùng nút nói: “Vì tôi có một vết nứt nên mỗi lần anh gánh nước tôi lại nhỏ từng giọt bên vệ đường khiến cho khi về đến nơi chỉ còn được nửa thùng, vì tôi anh đã phí nhiều sức lực”.

Người gánh nước cười: “Khi chúng ta trên đường, hãy chú ý những đóa hoa xinh xắn nở bên vệ đường, anh sẽ hiểu tại sao tôi lại dùng anh”.

Quả thực, trên con đường nhỏ, những đóa hoa đang nở rực rỡ dưới ánh mặt trời làm mê đắm lòng người. Người thanh niên nói: “Anh có nhìn thấy không? Tôi đã gieo những giống hoa đó, nước chảy qua vết nứt của anh sẽ tưới cho chúng mỗi ngày và chúng được tươi tốt. Những bông hoa làm cho tôi thanh thản, thoải mái, có hứng thú để làm việc mỗi ngày”.

Con người hay cầu toàn, nhưng những thứ hoàn mỹ thì chẳng bao giờ tồn tại. Cũng như lầu vọng nguyệt, chỉ có thể để ngắm trăng chứ không thể ở. Nếu cứ cố chấp theo đuổi những thứ hoàn mỹ, chúng ta sẽ khó có thể chấp nhận nhược điểm của mình.

Nên chấp nhận chúng vì đó là điều luôn tồn tại. Chúng ta không nên chỉ biết đánh giá mà phải biết có trách nhiệm với mọi người và bản thân. Chấp nhận điểm yếu và sống có trách nhiệm sẽ giúp chúng ta đi lên.

Ở đời vui đạo phải tùy duyên, hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền. Ngẫm về cái đạo Tùy duyên thế nào

Tùy duyên còn là thái độ biết tận dụng những nhân duyên mới mẻ đang hội tụ trong hiện tại để giải quyết vấn đề, hay tạo nên những đột phá tốt đẹp hơn. Nó sẵn sàng bỏ qua những dự tính, kể cả những khuôn thước đã được đặt để trước đây.

Thái độ này chỉ có ở những kẻ bản lĩnh và vững chãi thật sự. Họ phải đảm bảo phẩm chất không những không bị thay đổi mà còn tuyệt vời hơn trước khi hành động. Điều này khác hẳn với sự bùng vỡ của cảm xúc – quyết liệt làm cho được như ý rồi mau chóng chán nản và buông xuôi.

Nhà thiền có một câu chuyện rất thú vị. Hai sư huynh đệ nọ trên đường du phương hóa độ, bỗng thấy một cô gái đang loay hoay tìm cách đi qua dòng suối chảy xiết. Người sư huynh liền tiến tới hỏi: “Này cô! cô có muốn tôi cõng cô qua bờ bên kia không?”. Cô gái vô cùng mừng rỡ gật đầu đồng ý. Sau khi qua con suối rồi, hai huynh đệ từ giã cô gái và tiếp tục cuộc hành trình.

Đi được một đoạn đường, người sư đệ không kiềm chế được nữa bèn bức xúc lên tiếng: “Sao sư huynh lại làm như vậy?”. Người sư huynh ngạc nhiên hỏi: “Làm chuyên gì?”. “Thì chuyện cõng cô gái hồi nãy đó, chúng ta là người xuất gia tu hành kia mà!” – người sư đệ hơi cáu gắt.

Người sư hưynh mỉm cười, vỗ vai người sư đệ: “Ta đã để cô gái ấy lại bên bờ suối rồi, sao sư đệ còn mang tới đây!

(Tức trong tâm trí người sư huynh, việc cõng cô gái đã xong rồi. Không còn nghĩ ngợi gì nữa, đã để ở bên kia bờ suối sau khi cõng cô gái qua sông. Nhưng vị sư đệ vẫn chưa đủ trình độ, còn suy nghĩ vấn vương về việc nên cõng hay không nên cõng)

Người sư đệ không giúp cô gái qua sông thì không có gì sai. Vì trình độ tu tập của người sư đệ còn yếu kém, cần phải giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh để tâm hồn không bị khuấy động mà dễ dàng thiền định. Nhưng cái sai của người sư đệ là nghĩ người sư huynh cũng cùng trình độ như mình, cũng phải giữ sự thực tập y như mình, nên đã bất mãn với việc sư huynh giúp đỡ cô gái.

Đành rằng sự thanh tịnh tâm hồn là yêu cầu bắt buộc đối với người đã xuất gia tu hành, nhưng đó không phải là mục đích sau cuối của sự tu hành. Tu hành đâu phải cốt để bảo vệ giới luật cho thật trong sáng, còn ai khổ mặc ai. Giới luật mà chỉ bảo vệ cho mỗi sự thanh tịnh thôi thì giới luật ấy chỉ dành cho những kẻ sống vì bản thân hay còn quá yếu kém.

Nó không có giá trị thích ứng cho những người đã có đủ bản lĩnh bất động trước những xáo động của hoàn cảnh. Cho nên, ta không thể căn cứ trên vài hiện tượng bên ngoài để thẩm định mà không suy xét đến động cơ và kết quả. Vấn đề là sau hành động đột phá ấy thì họ đánh mất chính mình hay nâng cao phẩm chất hơn.

Câu nói “Ta đã để cô gái ấy lại bên bờ suối rồi, sao sư đệ còn mang tới đây?” đã xác định phần nào trình độ bất nhiễm của vị sư huynh. Tất nhiên, phải cần có thêm những kiểm chứng thực tế khác thì ta mới đủ tin vào khả năng tùy duyên mà không thay đổi phẩm chất của một người nào đó.

Bởi vì có nhiều người rất thích đột phá, nhất là những người trẻ. Họ luôn muốn dùng hết năng lực để nắm bắt những nhân duyên trong hiện tại để làm nên kỳ tích, nhưng số người thành công thì rất ít ỏi. Hầu hết gặp thất bại là do họ đã quá tự tin, đánh giá thấp hoàn cảnh, bị tham vọng chi phối, bị thói quen thay đổi lập trường kích động, hoặc không biết mình đang chiều theo sự tùy hứng. Tuy họ cũng tùy duyên nhưng lại… biến mất.

Thay đổi chiến lược bất ngờ, vượt qua nguyên tắc quan trọng, bất chấp sự cản trở của những người xung quanh, nhưng cuối cùng không đạt được mục đích mà còn phải trả những cái giá rất đắt thì đó là vết thương tâm lý rất nặng, vết thương ấy sẽ khiến ta đánh mất niềm tin nơi bản thân và trở nên rất dị ứng với những thay đổi sau này.

Chính vì hậu quả khó lường như thế nên người từng trải chỉ thích lối sống bình thường, giữ theo khuôn thước cho yên ổn. Nhưng cuộc đời đâu phải lúc nào cũng bình thường. Sẽ có lúc ta buộc phải vượt thoát sự bình thường ấy mới có thể cứu lấy bản thân hay giúp đỡ được kẻ khác thì ta phải làm sao?

Thế nên, trang bị sẵn một khả năng đủ lớn để ứng phó trước những nghịch cảnh là hành động của những kẻ trải nghiệm và có hiểu biết sâu sắc.

Thiền sư Trân Nhân Tông thời nhà Trần của Việt Nam đã từng khuyên: “Ở đời vui đạo phải tùy duyên/ Hễ đói thì ăn mệt ngủ liền” (Cư trần lạc đạo thả tùy duyên/ Cơ tắc xan hề khốn tắc miên – Cư trân lạc đạo). Nghệ thuật giữ gìn sự thanh thản trong tâm hồn ngay giữa bao sự phiền nhiễu của đời thường chính là thái độ tùy duyên.

Theo thiền sư Trần nhân Tông, tùy duyên có nghĩa là đói thì ăn mệt thì ngủ. Nhưng ăn ra ăn và ngủ ra ngủ; việc nào ra việc ấy, không trộn lẫn nhau, không thấy việc nào quan trọng hơn việc nào; việc nào đến trước thì giải quyết trước, không nôn nóng không bâng khuâng.

Mới nghe qua thật dễ, nhưng làm được thì rất khó. Ta phải thay đổi những thói quen rất lâu đời như vội vàng, lo lắng và sợ hãi. Ngay cả những kẻ sống trong chốn u nhàn cũng vẫn còn đầy dẫy những khắc khoải mong cầu thì đừng nói chi ta đang sống giữa chốn lao xao.

Lẽ dĩ nhiên, không ai bắt buộc ta phải tùy duyên. Nhưng khả năng tùy duyên của ta càng lớn thì sự thanh thản trong tâm hồn sẽ càng lớn. Nếu ta vẫn còn tiếp tục đi tìm hạnh phúc ở bên ngoài thì chắc chắn ta sẽ mãi còn mong muốn và áp đặt nhân duyên thuận theo ý mình.

Chỉ khi nào ta đã tìm thấy giá trị hạnh phúc chân thật nơi chính mình thì ta mới chấp nhận được mọi hoàn cảnh. Hòa nhập mọi hoàn cảnh để giúp người giúp đời mà không bị hòa tan, đó chính là mẫu người lý tưởng nhất của xã hội trong mọi thời đại.